Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giáo viên các trƣờng trung học cơ sở theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Chương 2: Cơ sở thực tiễn phát triển đội ngũ giáo viên các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Hà Nội theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp. luan an 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức đã tác động mạnh mẽ tới giáo dục phổ thông. Trong xu thế chung này, đội ngũ GV là nhân tố quan trọng quyết định sự thành công của giáo dục, chất lƣợng nguồn nhân lực. Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hƣớng đó. Chính vì vậy, nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc đã chú trọng nghiên cứu về phát triển đội ngũ GV THCS.
Những nghiên cứu về đội ngũ giáo viên trung học cơ sở 1. Ngoài nƣớc Theo Cooper, S, cơ quan phân tích Canada trong việc phân loại nghề nghiệp đã đƣa ra quy định mã số của nhóm GV THCS là 4031, nhóm GV này đƣợc quy định nhiệm vụ và tiêu chuẩn rõ ràng, theo đó (-) những nhiệm vụ chính của GV THCS: • Chuẩn bị tài liệu môn học để giảng dạy cho học sinh theo chƣơng trình đã đƣợc phê duyệt; • Dạy học sinh sử dụng một kế hoạch có hệ thống gồm các bài giảng, thảo luận, thuyết trình, nghe nhìn và các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và thực địa; • Giao và sửa bài tập về nhà; • Chuẩn bị, ra đề và sửa chữa các bài kiểm tra; • Đánh giá sự tiến bộ, xác định nhu cầu cá nhân của học sinh và thảo luận kết quả với phụ huynh và cán bộ nhà trƣờng; • Chuẩn bị và thực hiện các chƣơng trình phụ đạo cho học sinh cần trợ giúp thêm; • Tham gia các cuộc họp giáo viên, hội nghị giáo dục và hội thảo đào tạo GV; • Có thể dạy và đánh giá học sinh thông qua các khóa học từ xa hoặc trực tuyến; • Có thể tƣ vấn cho học sinh về việc lựa chọn khóa học, về nghề nghiệp và các vấn đề cá nhân; • Có thể giám sát học sinh. luan an 10 Theo Cunningham, P., & Weatherly, G, Philipin cũng đã nghiên cứu và thực hiện phân hạng GV THCS, nhóm giảng dạy ở trƣờng phổ thông, cao đẳng và đại học, GV hạng I, mức lƣơng 10; GV hạng II, mức lƣơng 11; GV hạng III, mức lƣơng 12. Đối với hạng I: trình độ cử nhân; Hạng II: trình độ cử nhân với 20 năm kinh nghiệm; hạng III: trình độ thạc sĩ.
Việc chi trả lƣơng đƣợc tính theo vị trí việc làm của GV trong trƣờng THCS. Việc phân loại các vị trí giảng dạy và những vị trí khác đƣợc đề cập tƣơng tự tuân theo nguyên tắc “trả lƣơng xứng đáng với công việc, trình độ đào tạo và kinh nghiệm”. Hệ thống thăng tiến nghề nghiệp đối với GV trƣờng THCS công lập coi trọng hiệu quả giảng dạy và cho phép GV vẫn giảng dạy trong khi vẫn có thăng tiến về địa vị và lƣơng thƣởng. Hệ thống thăng tiến nghề nghiệp này cũng đƣa ra các yêu cầu về nhiệm vụ, công nhận và bồi thƣờng tƣơng ứng cho bất kỳ hạng nghề nghiệp nào mà GV lựa chọn [118].
Các công trình nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp đã đƣợc Triển khai ở nhiều quốc gia. Bộ chuẩn nghề nghiệp GV của Australia đƣợc nghiên cứu xây dựng theo triết lí nhằm phát triển các năng lực nghề nghiệp (bao gồm việc học tập, thực hành và đóng góp cho sự phát triển nghề nghiệp. Các thành tố chính đƣợc miêu tả trong chuẩn nghề nghiệp đều hàm ý chất lƣợng dạy học, kì vọng của ngƣời GV trong 4 giai đoạn phát triển nghề: mới vào nghề, thành thạo nghề, giỏi nghề và dẫn dắt/dẫn đầu trong nghề. Bộ chuẩn không đề cập đến hệ thống năng lực đặc thù của GV mà trực tiếp chỉ ra các nhiệm vụ gắn với yêu cầu về chất lƣợng của hoạt động chuyên môn GV cần phải thực hiện [40tr7].
Nghiên cứu bộ chuẩn của Bộ Giáo dục Singapore (MOE) dựa trên khung năng lực nghề nghiệp của viên chức giáo dục và hệ thống quản lí các hoạt động giáo dục (Educational Performance Management System - EPMS). Hệ thống này chỉ rõ những yêu cầu đối với GV về kiến thức, kĩ năng, năng lực và “cụm năng lực” (competency cluster), mối liên hệ giữa hành vi và kết quả thực hiện mà GV cần phải đạt đƣợc, các phẩm chất đặc trƣng đảm bảo cho quá trình đƣợc thực hiện hiệu quả một cách bền vững, thành công lâu dài. Chuẩn nghề nghiệp GV của Singapore vừa mang màu sắc chuyên môn nghề nghiệp vừa bị định chế bởi danh mục hệ thống những nhiệm vụ cần thực hiện của viên chức giáo dục. Chuẩn năng lực dạy học của Singapore đƣợc phân thành 4 nhóm chính (hay còn gọi là cụm năng lực): Nuôi dƣỡng kiến thức; Thắp sáng trái tim và khối óc; Biết mình biết ngƣời; Biết làm việc cùng ngƣời khác.
Cụm năng lực đƣợc tổ hợp bởi các thành tố cụ thể và đƣợc mô tả chi tiết hơn trong phạm vi 2 đối tƣợng giáo viên: dành cho tất cả GV đại trà và GV cốt cán. Các chỉ báo nêu trên không xếp theo mức [40,tr8]. Nghiên cứu, xây dựng chuẩn nghề nghiệp GV của Anh đƣợc cấu trúc gồm 3 lĩnh vực có liên quan lẫn nhau, đó là: - Những đặc trƣng nghề nghiệp; - Kiến luan an 11 thức và sự am hiểu nghề nghiệp; - Các kĩ năng nghề nghiệp. Tƣơng ứng với 3 lĩnh vực trên, Chuẩn nghề nghiệp GV đƣợc thiết kế cụ thể cho từng giai đoạn phát triển nghề của GV: - GV mới vào nghề (Q): (33 chuẩn); - Dành cho tất cả GV (C): (41 chuẩn); - GV trong thang bậc trả lƣơng cao (P): (10 chuẩn); - GV giỏi (E): 15 chuẩn; - GV có kĩ năng cấp cao (chuyên gia) (A): 3 chuẩn [40,tr10].
Nghiên cứu về chuẩn nghề nghiệp GV của Ohio - Columbus, Mỹ là những kiến thức, kĩ năng hoặc việc thực hiện ở nghĩa rộng. Các chỉ số đƣợc đánh giá theo 3 mức độ: - Hoàn thành (TB): GV thể hiện những kiến thức, kĩ năng và khả năng cần thiết cho việc giảng dạy có hiệu quả. Họ đang trong quá trình trau dồi sự hiểu biết và kĩ năng của mình. Họ quan sát, theo dõi các tình huống trong lớp và nhà trƣờng và xử lí một cách thích hợp; - Thành thạo (Khá): GV tích hợp có hiệu quả kiến thức, kỹ năng và khả năng cần thiết cho giảng dạy có hiệu quả.
Họ là những nhà chuyên môn thành thạo, thể hiện tính mục đích, linh hoạt và ổn định. Họ dự đoán và theo dõi các tình huống trong lớp học của mình và trong trƣờng, và đƣa ra kế hoạch và việc xử lí phù hợp; - Nổi bật (Giỏi): GV sử dụng các kiến thức nền tảng vững chắc, các kỹ năng và khả năng của mình để đổi mới và nâng cao chất lƣợng giảng dạy. Họ là những nhà lãnh đạo ảnh hƣởng đến ngƣời khác. Họ dự báo và quan sát các tình huống trong lớp của mình và trong trƣờng, và định hƣớng lại một cách có hiệu quả, phù hợp.
Họ đáp ứng nhu cầu của đồng nghiệp và HS ngay tức khác và có hiệu quả. GV đạt đƣợc ở mức sau nghĩa là GV đã đạt đƣợc tất cả yêu cầu của mức độ trƣớc [40, tr17]. Preeti Bala, Liyaqat Bashir, Trợ lý Giáo sƣ, Trƣờng Giáo dục, Đại học Chuyên nghiệp hạnh phúc, Phagwara cho rằng: Động lực của GV là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý trƣờng học và trƣờng cao đẳng. Động lực trong công việc không chỉ đảm bảo rằng công việc đƣợc hoàn thành đúng thời gian mà còn yêu cầu chất lƣợng công việc đƣợc đảm bảo.
Nhà lãnh đạo đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì một môi trƣờng làm việc thuận lợi [151]. Pramod Kumar Naik1, S Usha Mani cho thấy rằng không có sự khác biệt quan trọng nào về hiệu quả của GV THCS giữa nam và nữ, giữa những GV làm việc trong trƣờng công lập hay tƣ thục; giữa trƣờng trung học ở nông thôn hay thành thị [150]. Các công trình trên cho thấy các quốc gia đã xác định đƣợc vai trò quan trọng của đội ngũ GV THCS, từ đó đã quan tâm nghiên cứu phát triển đội ngũ GV THCS đảm bảo đƣợc năng lực đáp ứng đƣợc yêu cầu theo đúng vị trí việc làm và theo hƣớng chuẩn hóa. Trong nƣớc luan an 12 Tác giả Đặng Bá Lãm đã đề cập tới các khía cạnh phát triển đội ngũ GV trong cuốn sách “Quản lý nhà nƣớc về giáo dục – Lý luận và thực tiễn”, trong đó tác giả đã nhấn mạnh các khía cạnh phát triển đội ngũ GV: (i) phát triển đội ngũ GV là sự tăng trƣởng về số lƣợng, chất lƣợng đội ngũ GV; (ii) phát triển đội ngũ GV bao gồm cả tuyển chọn, sử dụng, đào tạo, bồi dƣỡng, phát triển nghề nghiệp; (iii) phát triển đội ngũ GV còn chính là việc xây dựng đội ngũ GV đủ về số lƣợng, đồng bộ về cơ cấu, có chất lƣợng thực hiện tốt mục tiêu, nội dung và kế hoạch đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu giáo dục [Dẫn theo Hà Đức Đà, 39] Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Sỹ Thƣ (2006) bàn về giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ GV THCS tại một số tỉnh khu vực Tây Nguyên đã đề cập đến vấn đề nâng cao chất lƣợng hoạt động bồi dƣỡng GV cũng đã nêu lên sự cần thiết phải đổi mới quản lý BD GV và tác giả đã kiến nghị với cấp Sở GD&ĐT là phải có kế hoạch điều tra, rà soát và sắp xếp cho đội ngũ GV đƣợc chuẩn hóa và nâng chuẩn, tham dự các lớp đào tạo để nâng cao trình độ, cập nhật hóa thông tin và phƣơng pháp dạy học mới; Tổ chức các lớp bồi dƣỡng GV cho tất cả những GV đứng lớp trực tiếp là việc làm cấp bách [83].
Nghiên cứu về bộ chuẩn nghề nghiệp GV cơ sở giáo dục phổ thông của trƣờng Đại học Giáo dục đã đƣa ra một bộ chuẩn nghề nghiệp, bao gồm 5 tiêu chuẩn, 15 tiêu chí bao phủ đƣợc phẩm chất đạo đức, tác phong làm việc và năng lực chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ của GV THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục.