Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chương 2: Thực trạng gia tăng dân số cơ học và sự phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo tại quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Chương 3: Sức ép của sự gia tăng dân số với các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục tiểu học. Kết luận Khuyến nghị 14 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Các khái niệm công cụ 1. Gia tăng dân số Sự gia tăng dân số là sự tăng trưởng về tỉ lệ người sinh ra và sinh sống trên khu vực nào đó. Trên thế giới có hai loại tăng dân số là tăng dân số tự nhiên và tăng dân số cơ học. Gia tăng tự nhiên: Là sự biến động dân số trên thế giới (tăng lên hay giảm đi) là do hai nhân tố chủ yếu quyết định: sinh đẻ và tử vong.
Gia tăng cơ học: Gia tăng cơ học bao gồm hai bộ phận: xuất cư (những người rời khỏi nơi cư trú) và nhập cư (những người đến nơi cư trú mới). Sự chênh lệch giữa số người xuất cư và nhập cư được gọi là gia tăng cơ học. Trên phạm vi toàn thế giới, gia tăng cơ học không có ảnh hưởng lớn đến vấn đề dân số nói chung, nhưng đối với từng khu vực, từng quốc gia thì nó lại có ý nghĩa quan trọng (Bộ giáo dục và Đào tạo, Địa lí 10, 2018:83,86). Gia tăng dân số dẫn đến các nhu cầu về kinh tế và nhà ở, đất đai, môi trường cùng nhiều thứ khác.
Xu hướng tập trung về thành thị và các thành phố lớn nhiều quốc gia đang chứng kiến trước mắt và sẽ còn tiếp tục thấy trong tương lai. Hiện tượng này đang lớn mạnh dần. Dân thôn quê nhiều nước đang theo nhau ra các thành phố vì thu hút của việc làm và những cơ hội khó tìm được ở nơi khác. Biến động dân số cơ học: Biến động dân số cơ học (chuyển cư) là sự thay đổi chỗ ở của dân số, nói chính xác hơn là sự di chuyển của dân số qua một biên giới xác định của một vùng lãnh thổ nhằm mục đích thiết lập một nơi ở mới.
Cùng với sinh, chết (biến động tự nhiên dân số), chyển đi, chuyển đến(biến động cơ học của dân số) cấu thành các thành phần biến động dân số. Khái niệm đô thị hóa và sự gia tăng dân số Theo Luật Quy hoạch đô thị 2009, “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông 15 z nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn”. Đô thị hóa được hiểu là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực [27]. Theo khái niệm của ngành địa lý, đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian hoặc mật độ dân cư hoặc thương mại, hoặc các hoạt động khác trong khu vực theo thời gian.
Quá trình đô thị hóa kéo theo quá trình gia tăng dân số của các đô thị một cách nhanh chóng bằng các con đường: - Gia tăng dân số tự nhiên do dân cư của các đô thị - Quá trình di dân hay dân nhập cư từ các vùng nông thôn - Sự thay đổi về tỉ lệ phần trăm giữa người ở tại các đô thị với các vùng nông thôn Đô thị hóa là một quá trình xã hội - kinh tế nhiều mặt và phức tạp, hiện nay đang ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, do đó đòi hỏi một phương pháp tiếp cận tổng hợp dựa trên sự hợp tác của nhều ngành khoa học [Pivovarov, tr.1] Một cách hiểu thông thường và phổ biến đô thị hóa chính là quá trình phát triển dân số đô thị, kinh tế phát triển theo hướng tăng tỷ trọng đóng góp GDP và tỷ trọng lao động của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông, cơ sở dịch vụ, thông tin liên lạc). Các kiểu đô thị hóa: i) Đô thị hóa thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị hóa diễn ra ngay chính trong đô thị. Ở đây cũng có sự di dân, nhưng là từ trung tâm ra ngoại thành hoặc vùng ven đô. Quá trình này cũng có thể là quá trình chỉnh trang, nâng cấp đô thị, đáp ứng yêu cầu mới: ii) Đô thị hóa cưỡng bức: Là khái niệm dùng để chỉ sự di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị.
Đặc điểm đô thị hóa cưỡng bức là không gian kiến trúc không 16 z được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao. Các nhu cầu của dân nhập cư không được đáp ứng. Đô thị trở nên quá tải, nhiều tiêu cực phát sinh: iii) Đô thị hóa ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn sang đô thị nhỏ, hoặc từ đô thị trở về nông thôn. Theo các học giả Mỹ, hiện tượng này còn gọi là “sự phục hưng nông thôn”.
Phát triển đến một lúc nòa đó, bằng các chính sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn. Quá trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách và chất lượng sống giữa thành thị và nông thôn (Ankerl, Guy 1986; Baldwin. 1993; Bergsman, Greenston, and R. Trong cuốn Xã hội học giáo dục, theo tác giả Lê Ngọc Hùng, quá trình biến đổi xã hội đặc trưng bởi sự tích tụ dân cư, phát triển công nghiệp, dịch vụ, thị trường, giao thông, liên lạc, hình thành lối sống thành thị là quá trình đô thị hóa.
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là hai yếu tố chủ yếu của đô thị hóa. Cơ cấu đô thị của Việt Nam phức tạp với trên 500 loại thành phố, thị trấn, thị xã lớn nhỏ khác nhau. Về cơ bản, các đô thị nhất là những thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Hà Nội đều là những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục. Các thành thị luôn có những môi trường, điều kiện thuận lợi để phát triển giáo dục nhưng cũng chứa đựng những nguy cơ cản trở giáo dục, như ô nhiễm môi trường, ách tắc giao thông, quá tải số lượng học sinh.
Khái niệm giáo dục tiểu học và hệ thống giáo dục tiểu học Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất những những tri thức về tự nhiên, về xã hội và về tư duy, để họ có thể có đủ khả năng tham gia vào lao động và đời sống xã hội. Hoạt động giáo dục được tổ chức một cách chặt chẽ nhất ở nhà trường. Các lớp học được sắp xếp theo một chương trình thống nhất hợp lí và do những người có trình độ chuyên môn cao hướng dẫn. Giáo dục tiểu học: Theo Luật Giáo dục, giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi, được thực hiện trong năm năm học từ lớp 1 đến lớp 5, tuổi của học sinh vào lớp 1 là 6 tuổi.
Điều II Luật phổ 17 z cập giáo dục đã nêu “Giáo dục tiểu học là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm, đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em, nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Do vậy giáo dục ở bậc tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, với tính sư phạm đặc trưng [26]. Điều 13 Luật Phổ cập giáo dục Tiểu học quy định: Giáo dục tiểu học được thực hiện trong các trường, lớp tiểu học quốc lập, các loại hình trường, lớp dân lập. Học sinh học tại trường, lớp tiểu học quốc lập không phải trả học phí.
Trường tiểu học: Điều 2 của Điều lệ Trường tiểu học có nêu: “Trường tiểu học là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân. Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu. Trường tiểu học là cơ sở giáo dục phổ thông từ lớp 1 đến lớp 5. Hệ thống trường tiểu học gồm có trường công lập và trường dân lập (ngoài công lập).
Trường công lập Là trường do Nhà nước thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên. Trường dân lập (ngoài công lập) Bao gồm trường dân lập và trường tư thục; trong đó trường dân lập do cộng đồng dân cư ở cơ sở thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động; trường tư thục do các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân thành lập, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động bằng vốn ngoài ngân sách nhà nước. Khái niệm điều kiện đảm bảo chất lượng Thông tư 17/2018/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Ban hành Quy định kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học, tại Điều 2 quy định: 18 z Chất lượng giáo dục trường tiểu học: là sự đáp ứng mục tiêu của trường tiểu học, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục của Luật giáo dục, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước. Điều kiện: là cái cần phải có có để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra.
Điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục: Là những yêu cầu của về mục tiêu của Luật giáo dục đối với giáo dục tiểu học, cụ thể là các trường tiểu học về các điều kiện để cho việc thực hiện hoạt động giáo dục được đảm bảo. Thông tư số 36/2017/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 12 năm 2017, Ban hành Quy chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục và đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân, tại điều 5, mục 2, Công khai điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục gồm có: - Cơ sở vật chất: Số lượng, diện tích các loại phòng học, phòng chức năng, phòng nghỉ cho học sinh nội trú, bán trú, tính bình quân trên một học sinh.