Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Nhân lực và chất lượng nhân lực là chìa khóa thành công của mỗi quốc gia. Do vậy, quản lý hoạt động ĐBCL ở các trường CĐ, đại học được các quốc gia, các cơ sở đào tạo quan tâm, chú trọng và có nhiều nghiên cứu về nhiều khía cạnh liên quan đến vấn đề này, trong đó có: Theo Abdullah (2000), ĐBCL đạt được trên thực tế so với lý thuyết phụ thuộc nguồn lực và sử dụng các nguồn lực hiện có của tổ chức.
Đảm bảo chất lượng ĐBCL là phương tiện tạo ra sản phẩm không có sai sót do lỗi trong quá trình sản xuất hay đào tạo gây ra vì thế chất lượng được giao phó cho mỗi người tham gia. Từ ý tưởng này, người ta quan tâm đến việc tạo nên một nền văn hoá chất lượng khi áp dụng mô hình ĐBCL để người trực tiếp làm ra sản phẩm phải tự nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng, biết cách làm thế nào để đạt được chất lượng cao hơn và tự mình mong muốn làm điều đó, hơn thế nữa còn thuyết phục, vận động người khác cùng làm tốt như họ hoặc làm tốt hơn bản thân họ. ĐBCL bao gồm ĐBCL bên trong (internal quality assurance (IQA)) và ĐBCL bên ngoài (external quality assurance (EQA)) nhà trường. ĐBCL bên trong do nhà trường đảm nhận, ĐBCL bên ngoài do các cơ quan chức năng bên ngoài nhà trường thực hiện (gồm cả các cơ quan kiểm định chất lượng).
ĐBCL bên trong nhà trường là nhân tố quan trọng nhất, nhà trường chủ động tạo nên chất lượng (Phạm Lê Cường, 2016). Trong phạm vi luận án này, chúng tôi chỉ xem xét ĐBCL bên trong các trường CĐ dưới góc nhìn ĐBCL đào tạo như tiêu điểm nghiên cứu. Các thành tố cơ bản của đảm bảo chất lượng - Đảm bảo chất lượng bên trong Được thực hiện thông qua hệ thống ĐBCL bên trong cơ sở đào tạo để ngăn TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 12 ngừa và xử lý các lỗi xuất hiện trước và trong quá trình đào tạo, bao gồm những việc như: xây dựng, thực hiện, đánh giá, cải tiến thường xuyên các chuẩn về chất lượng từ các yếu tố: đầu vào, quá trình và đầu ra. - Tự đánh giá Đây là hoạt động tự đánh giá của chính cơ sở đào tạo căn cứ vào hệ thống tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng đào tạo do cơ quan có thẩm quyền ban hành để chỉ ra các mặt mạnh, mặt yếu, từ đó xây dựng kế hoạch và các biện pháp thực hiện nhằm đáp ứng mục tiêu đã đề ra.
- Đảm bảo chất lượng bên ngoài Bao gồm các hoạt động kiểm định chất lượng đào tạo, hoạt động kiểm tra, giám sát định kì, đột suất của các cơ quan có thẩm quyền. Các phương thức đảm bảo chất lượng - Đánh giá chất lượng Dù đối tượng của việc đo lường, đánh giá chất lượng là gì và chủ thể của việc đo lường, đánh giá là ai thì việc đầu tiên, quan trọng nhất vẫn là xác định mục đích của việc đo lường, đánh giá. Từ đó mới xác định được việc sử dụng phương pháp cũng như các công cụ đo lường tương ứng. Đánh giá sẽ tập trung vào câu hỏi “Kết quả các hoạt động như thế nào?” (tức là tập trung vào kết quả đầu ra).
Hoạt động đánh giá đơn thuần thường không gồm mục đích cải thiện chất lượng. Hiện nay xu hướng đánh giá ngày càng phụ thuộc vào phương pháp đánh giá định lượng thay vì đánh giá định tính (ví dụ như khi đánh giá người ta có thể đặt ra câu hỏi về số lượng sách trong thư viện hơn là hỏi về chất lượng của những cuốn sách đó có nội dung cập nhật hay không? Có liên quan đến chương trình đào tạo (CTĐT) nào? Có được giáo viên và người học nào đọc tham khảo hay không?). Trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, Ấn độ và Trung Quốc là hai nước đã sử dụng phương pháp đánh giá (theo hình thức xếp hạng các cơ sở đào tạo ở Ấn Độ hoặc xếp hạng giáo viên ở Trung Quốc) kết hợp cùng với quá trình kiểm định (Nguyễn Văn Ly, 2010). - Kiểm toán chất lượng Kiểm toán là hoạt động kiểm tra những gì một trường đã công khai hoặc TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 13 không công khai về bản thân nó.
Một trường thường công bố về những gì họ sẽ làm và hoạt động kiểm toán chất lượng sẽ kiểm tra liệu trường đó đã đạt được các mục tiêu đề ra ở mức độ nào. Kiểm toán chất lượng thường hay đặt câu hỏi “Bạn đã thực hiện những gì mình tuyên bố tốt đến mức độ nào?”. Chính phủ các nước thường thích hoạt động kiểm định hơn hoạt động kiểm toán chất lượng. Bởi vậy, quá trình kiểm toán chất lượng chỉ được áp dụng phổ biến trong những hệ thống giáo dục đã có từ lâu đời và các cơ sở đào tạo của nó vốn có truyền thống thực hiện tự đánh giá.
Ở khu vực Đông Á - Thái Bình Dương, Úc và Niu-Di-Lân là hai quốc gia tiêu biểu trong việc áp dụng qui trình kiểm toán chất lượng (Nguyễn Văn Ly, 2010). - Kiểm định chất lượng Kiểm định có thể được áp dụng cho một trường, hoặc chỉ cho một CTĐT của một môn học. Kiểm định đảm bảo với cộng đồng cũng như với các tổ chức hữu quan rằng một trường (hay một chương trình một môn học nào đó) có những mục tiêu đào tạo được xác định rõ ràng và phù hợp; có được những điều kiện để đạt được mục tiêu đó, và có khả năng phát triển bền vững. Kiểm định chú trọng câu hỏi “Liệu chất lượng hoạt động của bạn có đủ tốt để được chấp thuận (cho việc cấp chứng chỉ/bằng)?”.
Kiểm định nhằm hai mục đích: (i) Đảm bảo với những đối tượng tham gia vào công tác đào tạo rằng một CTĐT, hay một trường, khoa nào đó đã đạt hay vượt những chuẩn mực nhất định về chất lượng; (ii) Hỗ trợ trường liên tục cải tiến chất lượng. Bên cạnh đó, kiểm định chất lượng cũng xem xét đến yếu tố đầu vào đồng thời vẫn tính đến yếu tố đầu ra (Nguyễn Xuân Ninh, 2017). Nói một cách tổng quát, một trường hoặc CTĐT được công nhận đạt chất lượng kiểm định phải cho thấy rằng nó: - Có mục tiêu đào tạo phù hợp và được xác định rõ qua thời gian bởi cộng đồng giáo dục; - Có đủ các nguồn lực tài chính, con người, vật chất cần thiết để đạt được những mục tiêu đã đề ra; - Chứng tỏ rằng nó đã, đang và sẽ đạt được những mục tiêu đó; TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 14 - Đưa ra được đầy đủ minh chứng nhằm giúp mọi người tin tưởng rằng nó sẽ tiếp tục đạt được mục tiêu của mình trong một khoảng thời gian nữa trong tương lai. Trong ba cách thức ĐBCL đã nói, cách thức được sử dụng rộng rãi nhất trong khu vực, trên thế giới cũng như hữu hiệu nhất khi phục vụ mục đích phát triển và nâng cao chất lượng cho các trường là cách thứ ba: kiểm định chất lượng.
Các nguyên tắc của đảm bảo chất lượng - Sự phổ biến và minh bạch: Sứ mạng và mục đích của tổ chức được tất cả mọi người trong tổ chức biết một cách rõ ràng. - Xây dựng kế hoạch cụ thể: Hệ thống mà theo đó công việc được thực hiện là được suy tính cẩn thận, rõ ràng và được truyền đạt đến tất cả mọi người. - Phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm: Tất cả mọi người đều biết rõ trách nhiệm của mình và tự giác thực hiện trách nhiệm của mình. - Phát huy sức mạnh tập thể: Cái mà tổ chức cho là chất lượng đều được định nghĩa rõ ràng và có lưu trữ lại trong tài liệu của tổ chức.
Huy động sức mạnh tập thể, sự phối hợp nhịp nhàn ở các khâu, các bộ phận. - Có cơ chế quản lý chất lượng: Có hệ thống kiểm tra xem tất cả mọi việc có được tiến hành theo đúng kế hoạch không; và khi có sự cố - đây là điều không thể tránh - thì có những cách thức đã được đồng ý từ trước để giải quyết các sự cố đó. Trong công trình “Khung ĐBCL trong khu vực”, tác giả đã chỉ ra: Hệ thống ĐBCL đào tạo gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quá trình và các nguồn lực cần thiết của các cơ sở đào tạo dùng để thực hiện quản lý đồng bộ, nhằm đạt được những tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số cụ thể do nhà nước ban hành, để nâng cao và liên tục cải tiến chất lượng đào tạo nhằm thỏa mãn yêu cầu của người học và đáp ứng nhu cầu thị trường lao động (Tổ chức các Bộ trưởng giáo dục Đông Nam Á, 2003). Theo Kefalas và các cộng sự (2003), một hệ thống ĐBCL bao gồm các tiêu chuẩn chất lượng: chương trình học tập hiệu quả, đội ngũ GV, khả năng sử dụng cơ sở hạ tầng sẵn có, phản hồi tích cực từ học sinh, sinh viên (HSSV ) và sự hỗ trợ từ các bên liên quan và thị trường lao động.
Trong tài liệu “Sổ tay hướng dẫn và thực hiện”, tổ chức ĐBCL mạng lưới TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 15 chất lượng các nước Đông Nam Á (2004) đã nêu rõ: “Mô hình ĐBCL ở các nước Đông Nam Á rất đa dạng nhưng điểm chung là hầu hết các cơ quan ĐBCL quốc gia đều do nhà nước thành lập, nhà nước cấp kinh phí và chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kiểm định”. Báo cáo về các mô hình ĐBCL trong LIS của Tammaro cho biết: Ba mô hình ĐBCL xuất hiện từ các hướng dẫn và tiêu chuẩn khác nhau của LIS là: Định hướng chương trình; Định hướng quá trình giáo dục; Định hướng kết quả học tập (Tammaro, 2005). Trong tài liệu “Xây dựng năng lực trong giáo dục đại học và ĐBCL ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương”, tác giả đã trình bày: “ĐBCL có thể liên quan đến một chương trình, một cơ sở hay một hệ thống giáo dục đại học. ĐBCL là tất cả các quan điểm, đối tượng, hoạt động và qui trình đảm bảo rằng các tiêu chuẩn thích hợp về mặt giáo dục đang được duy trì và nâng cao trong suốt sự tồn tại và quá trình sử dụng; Cùng với các hoạt động kiểm soát chất lượng bên trong và bên ngoài của mỗi chương trình.
ĐBCL còn là việc làm cho các tiêu chuẩn và quá trình đều được cộng đồng giáo dục và công chúng biết đến rộng rãi” (Len, 2005).