Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về trường chất lượng cao 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về trường chất lượng cao của các tác giả nước ngoài Trong cuốn sách “International developments in upper secondary education: context, provision and issues” (Phát triển quốc tế trong giáo dục THPT: bối cảnh, điều kiện và các vấn đề) , Joanna Le Métais đã giới thiệu về sự ra đời của các mô hình nhà trường và sự phát triển của các phương thức giáo dục ở các nước trên thế giới. Tác giả cho rằng, sự kết thúc của thế kỷ 20 đã chứng kiến một nền giáo dục phát triển mạnh ở các nước phát triển và đang phát triển.
Đó là sự gia tăng về tỷ lệ và quy mô của cải cách đã hoặc đang được giới thiệu để giúp các quốc gia đáp ứng những thách thức của thế kỷ 21. Trong bối cảnh này, đã có nhiều thay đổi trong tổ chức cấu trúc và tính chất, nội dung, và đánh giá học tập tại cấp THPT ở hầu hết các quốc gia. Trong tài liệu "Building a Grad Nation: Progress and Challenge in Raising High School Graduation Rates. Annual Update 2016" (Xây dựng một quốc gia tốt nghiệp: Tiến bộ và thách thức trong việc tăng tỷ lệ tốt nghiệp trung học.
Cập nhật hàng năm 2016) [97], các tác giả đã giới thiệu các loại hình trường phổ thông của một số quốc gia. Theo đó, thời gian học THPT thay đổi theo loại chương trình và cơ sở giáo dục. Các chương trình giáo dục THPT có thể kéo dài từ 2 đến 5 năm. Chương trình 2 năm: Tây Ban Nha, Ireland, Anh, Québec, Singapore, Đức (một phần); Chương trình 3 năm: Phần Lan, Na Uy, Thu Sweden Điển, Đan Mạch, Đức (phần lớn); Chương trình 4 năm: Thụy Sĩ, Áo; Chương trình 5 năm: Ý.
Giáo dục THPT ở (1) trường cao đẳng cung cấp chương trình giáo dục phổ thông THPT (ví dụ, một số tiểu bang ở Úc, luan an 14 Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Thụy Điển), và (2) cao đẳng phối hợp giáo dục phổ thông cơ sở và THPT trong cùng một cơ sở giáo dục (ví dụ, Anh, Đức, Hungary, Ireland, Hà Lan, New Zealand, Tây Ban Nha, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ). Với tình trạng giáo dục THPT tại các nước khác nhau thì khác nhau như vậy, việc nghiên cứu hệ thống giáo dục là rất cần thiết. Thông qua các nghiên cứu các nhà khoa học mong muốn cung cấp kiến thức và kết quả nghiên cứu quan trọng góp phần cho sự phát triển tiếp theo của nền giáo dục cơ bản nói chung và nền giáo dục THPT nói riêng. Trong một báo cáo OECD năm 2012 về “Chuẩn bị giảng viên và phát triển lãnh đạo nhà trường cho thế kỷ 21”, các tác giả đã chỉ rõ tầm quan trọng của giảng viên và lãnh đạo nhà trường trong việc đổi mới, phát triển các trường học trên toàn thế giới.
Theo đó, rất nhiều trường học hay ngành giáo dục của các quốc gia trên thế giới đang trong giai đoạn đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo và công tác đánh giá, khảo thí để đạt được mục tiêu chất lượng đào tạo cao đáp ứng tốt nhu cầu nhân lực cho xã hội trong thế kỷ 21. Bài báo khoa học của Ng Pak Tee (2003) “Trường học ở Singapore và mô hình trường học xuất sắc” [102] đã cho thấy trước tầm nhìn quốc gia về giáo dục của Singapore là “Các trường học sáng tạo, Quốc gia học tập” thì các trường học ở Singapore cần có các thay đổi mạnh mẽ để trở thành các trường xuất sắc. Theo đó, hệ thống đánh giá các trường học ở Singapore từ năm 2000 có những thay đổi lớn theo cách tự đánh giá sử dụng mô hình trường học xuất sắc (SEM). Mô hình này dựa trên mô hình đánh giá hoạt động kinh doanh xuất sắc như các doanh nghiệp.
Nội dung bài báo đã làm rõ vai trò của lãnh đạo và công tác quản lý trường học của Singapore và các nội dung khác theo đánh giá của mô hình SEM. Trong mô hình SEM này, nhiều thành phần khác nhau được đề cập hướng tới mục tiêu phát triển trường học xuất sắc, luan an 15 trong đó vai trò lãnh đạo nhà trường được đặt trọng số cao, bên cạnh các yếu tố khác. Nghiên cứu này cũng kết luận rằng mô hình SEM không chỉ giúp phát triển nhà trường nói chung mà nhấn mạnh vai trò lãnh đạo và phát triển văn hóa của trường học giúp phát triển bền vững. Năm 2012, Peter M Senge và các cộng sự trong cuốn sách “Schools that learn (updated and revised): A fifth discipline fieldbook for educators, parents, and everyone who cares about education”, (Các trường học: Một cuốn sách kỷ luận thứ năm dành cho các nhà giáo dục, phụ huynh và mọi người quan tâm đến giáo dục) [106] ông đã bàn đến xây dựng nhà trường như là một tổ chức học tập.
Trong đó ông đã phát triển khái niệm về một tổ chức học tập. Ông quan niệm nhà trường như một tổ chức học tập bao gồm các hệ thống động trong trạng thái thích ứng và cải tiến liên tục. Nhà trường là những tổ chức “nơi mọi người liên tục mở rộng khả năng của họ để tạo ra kết quả mà họ thực sự mong muốn, nơi các kiểu tư duy mới và mở rộng được nuôi dưỡng, nơi mà khát vọng tập thể được giải phóng và nơi mọi người tiếp tục học hỏi để thấy toàn bộ cùng nhau”. Ông lập luận rằng chỉ những tổ chức có khả năng thích ứng nhanh và hiệu quả mới có thể vượt trội trong lĩnh vực hoạt động của mình.
Để nhà trường trở thành một tổ chức học tập, phải có hai điều kiện bắt buộc. “Đầu tiên là khả năng thiết kế tổ chức để phù hợp với kết quả mong muốn hoặc mong muốn, và thứ hai, khả năng nhận ra khi hướng ban đầu của tổ chức khác với kết quả mong muốn và làm theo các bước cần thiết để sửa lỗi không phù hợp này”. Senge cũng tin vào lý thuyết về tư duy hệ thống mà đôi khi được gọi là “Nền tảng” của tổ chức học tập. Tư duy hệ thống tập trung vào cách cá nhân đang được nghiên cứu tương tác với các thành phần khác của hệ thống.
Thay vì tập trung vào các cá nhân trong một tổ chức, họ thích xem xét số lượng tương tác lớn hơn trong tổ chức và giữa các tổ chức nói chung. Ông đã xây dựng tiêu chuẩn năng lực cán bộ quản lý trường THPT thành 3 nhóm: năng lực quản lý, năng lực chuyên môn và năng lực cá nhân và luan an 16 chia thành các mức độ thành thạo năng lực khác nhau để thuận lợi cho công tác đào tạo và phát triển cán bộ quản lý đạt chuẩn. Peter M Senge còn nhấn mạnh tác động của năng lực lãnh đạo nhà trường tới kết quả hoạt động một cách trực tiếp và gián tiếp khác nhau. Bên cạnh việc tham gia tác động vào kết quả hoạt động chuyên môn, những người lãnh đạo nhà trường còn có đóng góp thông qua việc động viên, khuyến khích các giáo viên và học sinh học tập.
Qua đó, kết quả học tập của học sinh và kết quả hoạt động của nhà trường được cải thiện nhờ vào vai trò lãnh đạo nhà trường. Ở Châu Á, trong bài báo của Shyr, W. (2017), “Developing the Principal Technology Leadership Competency Indicators for Technical High Schools in K-12 in Taiwan - Phát triển các chỉ số năng lực lãnh đạo của hiệu trưởng trường phổ thông” đăng trên Tạp chí Toán học, khoa học và công nghệ Eurasia [109] đã công bố kết quả nghiên cứu về phát triển các chỉ báo về năng lực lãnh đạo dành cho hiệu trưởng các trường phổ thông ở Đài Loan. Theo đó, tác giả bài báo nhấn mạnh việc phát triển năng lực lãnh đạo này sẽ giúp cho hiệu quả hoạt động giảng dạy và quản lý của các hiệu trưởng được tốt hơn đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học kỹ thuật trong thời đại mới.
Tác giả đã phân tích các năng lực lãnh đạo và quản lý quá trình học tập và giảng dạy ở nhà trường, năng lực quản lý sự thay đổi của tổ chức, năng lực lãnh đạo cá nhân và nhân viên cũng như năng lực phát triển nhà trường. Các kết quả nghiên cứu và thực tiễn áp dụng tiếp cận năng lực cho phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường học phổ thông trên thế giới là rất phổ biến và đúng xu hướng phát triển nguồn nhân lực dựa trên năng lực. Tùy thuộc vào thực tiễn mỗi quốc gia và mục tiêu phát triển của các trường phổ thông mà tiêu chuẩn năng lực được thiết lập phù hợp. Tổng quan các công trình nghiên cứu về trường chất lượng cao của các tác giả trong nước Trong cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”[81], tác giả Trần Đình Tuấn đã làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò quan trọng của giáo dục trong phát triển đất nước ở các giai đoạn khác nhau.
Theo đó, sự phát triển của giáo dục phải tương thích với sự phát triển của đất nước. Mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, bối cảnh xã hội khác nhau có các yêu cầu khác nhau về chất lượng giáo dục. Giáo dục chất lượng cao là cao so với điều kiện xã hội trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Các nội dung luận giải trong cuốn sách giúp định hướng về mặt lý luận phát triển giáo dục tại Việt Nam theo định hướng đổi mới căn bản và toàn diện và định hướng cho xây dựng trường THPT chất lượng cao trong bối cảnh hiện nay.
Theo cuốn “Quản lý giáo dục” [38] do Bùi Minh Hiền chủ biên đã đề cập, trong quá trình phát triển lịch sử giáo dục ở Việt Nam cũng như các nước trong khu vực và trên thế giới thời cận và hiện đại, có thể thấy có bốn mô hình phát triển giáo dục: Mô hình giáo dục tượng trưng, hay còn gọi là mô hình giáo dục tinh hoa (education for elite), mô hình giáo dục cạnh tranh hay còn có thể gọi là mô hình giáo dục vì nhân lực (education for manpower), mô hình giáo dục phục vụ hay còn gọi là mô hình giáo dục đại chúng (education for mass) và cuối cùng là mô hình giáo dục dịch vụ, hay còn có thể gọi là mô hình giáo dục trong xã hội học tập (education in learning society). Mỗi mô hình giáo dục đều mang trong mình những điểm mạnh, điểm vượt trội nhưng vẫn còn tồn tại một vài yếu tố bất cập. Mô hình giáo dục tượng trưng đúng như tên gọi của nó được hình thành trong các xã hội tiền công nghiệp và nông nghiệp khi mà giáo dục vẫn chưa được coi trọng và đề cao.