mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 7 tiết. Chƣơng 1: Tầ m quan tro ̣ng và yêu cầ u của viê ̣c đào ta ̣o nguồ n nhân lực. Chƣơng 2: Thực tra ̣ng và những vấ n đề đă ̣t ra trong đào ta ̣o nguồ n nhân lực. Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chấ t lươ ̣ng đào ta ̣o nguồ n nhân lực.
8 z Chƣơng 1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Quan niệm về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực ngành Giao thông vận tải 1. Quan niệm về nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm đồng nghĩa với khái niệm nguồn lực con người, đây là khái niệm có nội dung đa dạng, được đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó, quyết định năng xuất lao động và tiến bộ xã hội.
Con người còn có mặt trong quan hệ sản xuất trên cả 3 bình diện: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối. Nguồn lực con người cũng đồng thời là nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực của mọi nguồn lực, là nội lực của sự phát triển của tất cả các quốc gia. Đó là nguồn lực có trí tuệ, có khả năng phục hồi và tự tái sinh, tự phát triển; đồng thời nguồn nhân lực vừa là chủ thể vừa là khách thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Mỗi một lĩnh vực, một ngành nghề nhất định lại có nguồn nhân lực riêng của mình với những yêu cầu, đặc điểm riêng nhất định. Tính chất, đặc điểm, vai trò của nguồn nhân lực trong từng lĩnh vực cụ thể có những đặc thù riêng, đồng thời lại mang những tính chất, vai trò, đặc điểm chung của nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trong luận văn này, tác giả nghiên cứu nguồn nhân lực với tư cách là lực lượng lao động.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đưa ra quan niệm: nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong một thời 9 z kỳ xác định của một quốc gia, bao hàm trong đó nguồn nhân lực ở một địa phương, một ngành hay một vùng xác định. Đây là nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội. Quan niệm này cần được diễn đạt cụ thể thêm trên các nội dung: thứ nhất, nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường, có khả năng lao động; thứ hai, nguồn nhân lực là nguồn lực với tư cách là yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội, là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, có khả năng tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Với cách hiểu này, nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động; thứ ba, nguồn nhân lực có thể hiểu đó là tổng hợp các cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần của các cá nhân được huy động vào quá trình lao động, phát triển kinh tế - xã hội.
Đó là cách xem xét một cách toàn diện về nguồn nhân lực. Cần quan niệm nguồn nhân lực trên quan điểm toàn diện và khoa học. Bộ Luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: những người trong độ tuổi từ đủ 15 đến 60 tuổi đối với nam và từ đủ 16 đến 55 tuổi đối với nữ, đều thuộc vào nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động. Những người trong độ tuổi lao động nhưng không có khả năng lao động, do điều kiện sức khoẻ, bệnh tật, sinh lý… thì không nằm trong khái niệm nguồn nhân lực mà chúng ta nghiên cứu.
Như vậy, nguồn nhân lực cần phải được xem xét, đánh giá trên ba bình diện: số lượng (số dân); chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực và phẩm chất; và cơ cấu nguồn nhân lực. Con người là một thực thể tự nhiên và xã hội, không chỉ sống trong môi trường tự nhiên mà còn sống trong môi trường xã hội. Theo quan điểm triết học Mác-Lênin, hoạt động của con người chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt 10 z động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động này con người cải tạo chính bản thân mình. Con người, bằng hoạt động lao động, đã làm biến đổi tự nhiên, sáng tạo ra lịch sử - xã hội đồng thời làm biến đổi chính mình.
Các yếu tố tự nhiên và xã hội trong mỗi con người gắn bó chặt chẽ và khăng khít với nhau, nhưng bản chất con người là một bản chất xã hội, là tổng hoà tất cả các quan hệ xã hội như Mác đã khẳng định. Chính hoạt động lao động và hoạt động thực tiễn nói chung đã làm biến đổi tâm lý của con người, làm cho con người mang tính người, tính xã hội và cũng chính hoạt động thực tiễn đó đã làm cho nhu cầu sinh vật ở con người mang tính người là nhu cầu có tính xã hội. Yếu tố tâm lý trong mỗi con người không phải tồn tại bên cạnh yếu tố xã hội mà chúng hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau. Bản tính tự nhiên của con người được chuyển vào bản tính xã hội của con người và được cải biến đi trong quá trình hoạt động thực tiễn.
Con người tuy là một sinh vật, một động vật nhưng có suy nghĩ, có ý thức khác với động vật bị bản năng thống trị. Nhân tố con người, đặc biệt là sức lao động, là yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất, đặc trưng cho khả năng phát triển không ngừng của nền sản xuất xã hội. Người ta thường quan niệm nhân tố sức lao động là một phạm trù tổng hợp bao gồm các thành tố: thể lực, tâm lực (đạo đức) và trí lực. Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe, y tế và sự rèn luyện của từng con người cụ thể.
Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và các quan hệ của mình trong xã hội. Tâm lực được quan niệm là phẩm chất đạo đức, nhân cách. Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội), trình độ kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm làm việc và kỹ năng tư duy xét đoán sự vật, hiện tượng của mỗi người.
Nhờ trí tuệ, con người đã khai thác, chế ngự thiên nhiên và sử dụng nó để bảo tồn và phát triển xã hội 11 z của mình. Trí lực của con người được phát triển thông qua giáo dục, đào tạo và hoạt động lao động sản xuất, hoạt động thực tiễn của bản thân con người. Nhân tố sức lao động với tư cách là nhân lực, là nguồn nhân lực xét trên các bình diện của cấu trúc cá thể, cá nhân không chỉ biểu hiện ở thể lực, trí lực mà còn là tâm lực. Đó là phẩm chất đạo đức, nhân cách, là giá trị gốc của con người đã trưởng thành.
Như vậy, nguồn nhân lực xã hội là tổng hoà các sức mạnh và các giá trị của các nguồn nhân lực cá thể hợp thành. Từ cách tiếp cận trên, nguồn nhân lực có thể được hiểu là: Nguồn nhân lực là dạng đặc biệt của nguồn lực nói chung, là tổng thể các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội; là tổng thể số lượng dân, chất lượng con người và cơ cấu số dân với tất cả sức mạnh và khả năng của nó có thể huy động vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố tạo nên sức mạnh của con người và cộng đồng xã hội; là tổng thể số lượng dân, chất lượng con người và cơ cấu số dân. Chúng ta, cần phân tích trên các yếu tố chính hợp thành như sau: Thứ nhất, yếu tố số lượng.
Số lượng là yếu quan trọng đầu tiên của nguồn nhân lực. Không có số lượng đến mức cần thiết thì không thể phát huy được sức mạnh của nguồn nhân lực. Số lượng là “cốt vật chất” của nguồn nhân lực. Số lượng nguồn nhân lực được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố dân cư theo khu vực và vùng lãnh thổ của dân số.
Thứ hai, yếu tố chất lượng. Chất lượng nguồn nhân lực là một yếu tố có nội dung rộng lớn, nói lên trình độ toàn diện của nguồn nhân lực, được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu chủ yếu: Chỉ tiêu về tình trạng sức khỏe của con người, đó là trạng thái thoải mái về thể chất và tinh thần của con người. Các chỉ tiêu cơ bản phản ánh sức khỏe 12 z là thể lực (chiều cao, cân nặng), bệnh tật, tuổi thọ. Sức khỏe là nhân tố tác động trực tiếp đến cả số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
Người lao động có sức khỏe tốt, có thể mang lại lợi ích kinh tế - xã hội nhiều hơn nhờ việc huy động sức mạnh, sự bền bỉ, dẻo dai và tập trung trí tuệ cao trong khi thực hiện công việc; nếu sức khoẻ không tốt, thì đó là chất lượng nguồn lực thấp, không đáp ứng được yêu cầu phát triển của kinh tế - xã hội. Chỉ tiêu về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, chuyên môn kỹ thuật của người lao động là chỉ tiêu quan trọng về chất lượng nguồn nhân lực. Trình độ học vấn được biểu hiện bằng tỷ lệ biết chữ, sự lĩnh hội các tri thức và kỹ năng theo nhóm tuổi, theo các cấp độ trong hệ thống giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp. Trình độ chuyên môn kỹ thuật là sự hiểu biết các tri thức lý thuyết về nghề và các kỹ năng thực hành về chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ nào đó của người lao động.