Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài luận án 1. Những công trình nghiên cứu về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu xã hội 1. Những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Nâng cao chất lượng ĐTN luôn là mục tiêu, là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý, bởi vì sự thay đổi không ngừng của xã hội đặt ra những thách thức không nhỏ.
Để giải quyết các vấn đề đồng thời đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp sản xuất. Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp quản lý để nâng cao chất lượng ĐTN đáp ứng NCXH luôn là mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu. Taylor (1905) - cha đẻ của thuyết quản trị theo khoa học được xem là người đầu tiên nghiên cứu vấn đề hợp lý hóa thao tác lao động. Trong cuốn The Systematic Training Model: Corn Cycles in Search a Spaceship (Mô hình đào tạo hệ thống), tác giả khẳng định muốn thực hiện công việc hiệu quả thì phải hợp lý hóa động tác, đó là cơ sở trong việc ĐTN theo tiếp cận năng lực thực.
Vì vậy, muốn ĐTN nào thì phải phân tích nghề đó, phân tích xem trong một nghề có bao nhiêu công việc cơ bản và chỉ dạy những công việc nào thường xuất hiện nhiều nhất, tần suất công việc cao nhất, công việc nào ít sử dụng thì không dạy [87]. Năm 1992, nghiên cứu của William E. Blank đã ủng hộ các quan điểm về xây dựng năng lực thực hiện khi xuất bản tài liệu “Sổ tay phát triển CTĐT dựa vào năng lực” (Handbook for Developing Competency - Based Training Programs). Nghiên cứu này đã đề cập những vấn đề cơ bản của GD&ĐT theo tiếp cận năng lực thực hiện, phân tích nghề và phân tích nhu cầu người học, xây dựng hồ sơ năng lực người học, phát triển công cụ đánh giá sự hiểu biết và sự thực hiện, phát triển các gói học tập, cải tiến và quản lý CTĐT [90].
luan an 14 Nghiên cứu của Carnevale, Gainer & Villet (1990) trong tài liệu “Training in America: The Organization and Strategis Role of Training” (Đào tạo nghề ở Hoa Kì: Vai trò tổ chức và chiến lược của đào tạo) đã chỉ ra rằng, ĐTN cần phải được chú trọng và tiến hành ngay từ cấp trung học phổ thông phân ban và các trường dạy nghề cấp trung học. Học sinh tốt nghiệp được cấp bằng chứng nhận và chứng chỉ công nhân lành nghề sau thời gian đào tạo từ 2-7 năm tùy thuộc vào từng nghề đào tạo. Cũng theo các tác giả, các trường dạy nghề nên sử dụng chương trình kiểu module trong ĐTN, bởi nó đã được chứng minh hiệu quả trong việc đào tạo bổ túc tức thời cho công nhân làm trong các dây chuyền trong nhà máy. Để đáp ứng với các dây chuyền sản xuất theo kiểu Taylor vốn thống trị thời bấy giờ, công nhân được đào tạo cấp tốc trong các khóa học ngắn hạn theo module.
Học viên được làm quen với mục tiêu công việc và được đào tạo ngay tại dây chuyền với nội dung không thừa, không thiếu nhằm đảm nhận được một công việc cụ thể trong dây chuyền. Khi có sự thuyên chuyển vị trí làm việc (nội dung làm việc khác), người công nhân phải qua một khóa học ngắn hạn tương tự. Cho đến giai đoạn 1970, đào tạo theo tiếp cận năng lực được hình thành và phát triển rộng khắp tại Hoa Kì đã định hình một nấc thang mới cho chất lượng ĐTN [65]. Trong một nghiên cứu điển hình với tựa đề: “Flexible delivery of Training - The Austrlian Resorts Experience” (Triển khai đào tạo linh hoạt - Kinh nghiệm của Australia), tác giả Julie Hekenberg (1993) đã khẳng định rằng, việc tổ chức ĐTN phải linh hoạt để đáp ứng nhu cầu của thị trường luôn biến động bằng cách áp dụng các CTĐT nghề theo module.
Tác giả cho rằng, hệ thống ĐTN theo kiểu module đã và đang tạo ra những thay đổi tích cực cho hệ thống, đáp ứng được những yêu cầu mới của sự phát triển KT-XH. Hệ thống chính sách ĐTN Australia đặc biệt nhấn mạnh những nội dung cơ bản gồm: Tăng cường định hướng phân luồng giữa giáo dục cơ bản và ĐTN; Tập trung vào kết quả đầu ra của đào tạo (tay nghề); Gia tăng số lượng, tỷ lệ người học nghề; Nâng cao luan an 15 nhận thức về tầm quan trọng của ĐTN; Mở rộng mạng lưới cơ sở đào tạo và mở rộng cơ hội tham gia đào tạo cho người lao động, đặc biệt là các nhóm yếu thế (như phụ nữ, thanh niên nông thôn, người tàn tật, người bản xứ). Với những nỗ lực đổi mới đó, hệ thống ĐTN của Australia đến nay được xem như một mô hình hệ thống kiểu mẫu và được biết đến rộng rãi trên thế giới [74]. Cuốn sách của Fletcher & Buckley (1997) với tựa đề “Designing Competence - Based Training” (Thiết kế đào tạo dựa vào năng lực) đã trình bày một hướng dẫn thực hành về các kỹ năng cần thiết khi thiết kế nội dụng đào tạo dựa trên năng lực; cách sử dụng bài tập nghiên cứu trường hợp điển hình, cung cấp cho giáo viên với một hướng dẫn chắc chắn điều chỉnh các CTĐT cho phù hợp với cả nhu cầu của tổ chức của họ và phù hợp với tiêu chuẩn mới về năng lực nghề nghiệp và hiệu suất làm việc.
Như vậy, quan điểm phát triển chương trình ĐTN nhấn mạnh đến việc sử dụng chương trình theo kiểu module, được phát triển trên cơ sở phân tích nghề (DACUM là một phương pháp điển hình) và dựa trên tiêu chuẩn công nghiệp của nghề. CTĐT phải được thiết kế linh hoạt ở cả đầu vào và đầu ra, thời gian và địa điểm đào tạo [71]. Trong cuốn sách “The Potential of Experiential Learning Models and Practices In Career and Technical Education & Career” (Tiềm năng của mô hình học tập dựa vào kinh nghiệm và thực hành trong nghề nghiệp và giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp), Clark và các cộng sự khác (2010) đánh giá mô hình của Kolb (1984) có tiềm năng lớn nhất trong nghề nghiệp, bởi vì nó giúp sinh viên có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với các sự kiện thực tế, học tại vị trí việc làm, học dựa trên công việc. Từ đó, người học rèn luyện được kỹ năng thích ứng với môi trường lao động nghề và cuộc sống thực tế luôn thay đổi, đồng thời liên tục thúc đẩy thói quen học tập suốt đời [67].
Theo Wurdinger & Carlson (2010) trong cuốn sách “Teaching for Experiential Learning: Five Approaches That Work” (Dạy học cho học tập trải nghiệm: Năm cách tiếp cận công việc) đã trình bày năm chiến lược tiếp luan an 16 cận để truyền cảm hứng và thúc đẩy sinh viên học tập. Các tác giả cung cấp các mô tả chuyên sâu về các chiến lược sư phạm cho học tập dựa trên kinh nghiệm: học tập chủ động, học tập dựa trên vấn đề, học tập dựa trên dự án, học tập dịch vụ và đào tạo tại chỗ. Wurdinger & Carson (2010) cho rằng, bằng những thiết kế học tập dựa trên kinh nghiệm để thực hành và áp dụng kiến thức đã học với thực tế, người học sẽ tự tìm thấy động cơ, nhu cầu học tập cho mình, sử dụng các bài tập thực hành gắn với bối cảnh thực để giúp sinh viên nhúng các kinh nghiệm cá nhân vào trong thực hành kĩ thuật. Tác giả Shirley Fletcher trong cuốn “Kỹ thuật đánh giá dựa vào năng lực” (Competence - Based Assessment Techniques) đã đưa ra các nguyên tắc và thực hành đánh giá theo tiêu chuẩn, mục tiêu và sử dụng đánh giá theo tiếp cận năng lực thực hiện, việc thiết lập các tiêu chí cho sự thực hiện, thu thập bằng chứng cho đánh giá năng lực thực hiện sử dụng trong khâu quản lý ĐTN [85].
Trong cuốn sách của Lucas, B., & Claxton (2012) với tựa đề “How to teach vocational education: A theory of vocational pedagogy” (Cách dạy học trong giáo dục nghề: Một lý thuyết của sư phạm nghề) cung cấp tổng quan 18 hoạt động học tập trải nghiệm phổ biến trong ĐTN như: học bằng xem, học bằng bắt chước, học bằng thực hành, học thông qua phản hồi, học qua đối thoại, học bằng giúp đỡ, học bằng giải quyết vấn đề thế giới thực, học thông qua yêu cầu, học bằng tư duy phê phán, học bằng phản ánh, học bằng huấn luyện, học bằng cạnh tranh cuộc thi, học qua môi trường ảo, học thông qua mô phỏng, học thông qua chơi game. Việc lựa chọn hoạt động dạy học là phụ thuộc vào đặc điểm người học, bối cảnh dạy học và trình độ của giáo viên [79]. Tài liệu của Chapman, Lewis, Osborne & Gray (2013) tựa đề “An action research approach for the professional development of Vietnamese nurse educators” (Một cách tiếp cận nghiên cứu hành động cho sự phát triển chuyên nghiệp của giáo dục điều dưỡng) đã cho thấy, tiếp cận nghiên cứu hành động chính là một mô hình hữu hiệu để triển khai phát triển CTĐT theo luan an 17 tiếp cận năng lực ĐTN như là việc tổ chức một chuỗi các hành động cho người học trải nghiệm để phát triển năng lực hành nghề dựa vào tiềm năng của các nhân [66]. Như vậy, nội dung ĐTN nên được thiết kế thành các nhiệm vụ/công việc nghề nghiệp cụ thể để hình thành các năng lực hành nghề cốt lõi, và các năng lực chung như giải quyết vấn đề sáng tạo, tư duy phản biện.
Nội dung đào tạo các công việc nghề nghiệp cho học sinh cần chứa đựng các bài tập nghiên cứu trường hợp điển hình, có nguồn gốc từ thực tiễn để cho phép người học áp dụng kiến thức trong bối cảnh thực. Trong hơn 30 năm nghiên cứu, Kolb đã phát triển một mô hình toàn diện về quá trình học tập năng động của người trưởng thành, những người đã có vốn kinh nghiệm phong phú về nghề nghiệp. Trong tác phẩm “Kolb’s Experiential Learning Theory” (Lý thuyết kinh nghiệm học tập của Kolb) (2013), ông đã miêu tả một quá trình học tập gồm 4 bước như sau: người học bắt đầu với kinh nghiệm đã có, sau đó thực hiện phản ánh để đưa ra các quan điểm cá nhân trước các vấn đề cần giải quyết từ đó hình thành kiến thức mới, cuối cùng họ sử dụng những kiến thức này để áp dụng luyện tập nhằm rèn luyện kỹ năng nghề, kết quả của quá trình sẽ hình thành một kinh nghiệm mới. Cho đến nay, lý thuyết của Kolb nhận được nhiều sự ủng hộ và được áp dụng rộng rãi trong ĐTN.