Chương 1: Cơ sở lý luận về sự hài lòng của học sinh trung học cơ sở với cha mẹ Chương 2: Tổ chức nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng sự hài lòng của học sinh trung học cơ sở với cha mẹ trên địa bàn tỉnh Tây Ninh. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ VỚI CHA MẸ 1. Khái niệm *Sự hài lòng Theo tác giả Diener sự hài lòng là: “một sự đánh giá tổng thể về chất lượng cuộc sống của một cá nhân dựa trên những tiêu chuẩn của chính anh ta” [dẫn theo 7, tr10] Năm 1978, hai tác giả là Shin và Johnson đã đưa ra quan điểm về sự hài lòng về cuộc sống. Các ông cho rằng đây là khái niệm liên quan đến quá trình tự đánh giá và “là sự đánh giá toàn diện về chất lượng cuộc sống của một người có liên quan đến tiêu chí mà chính họ lựa chọn”.
[dẫn theo 12, tr.64] Sự hài lòng về cuộc sống của Sumner (1966) là "Đánh giá tích cực về điều kiện của cuộc sống của bạn, một bản án mà ít nhất là trên sự cân bằng, nó sẽ chống lại bạn tiêu chuẩn hoặc kỳ vọng." [dẫn theo 36, tr. 26] Andrew (1974) cho rằng sự hài lòng trong cuộc sống tượng trưng cho một tiêu chí bao trùm hoặc kết quả cuối cùng kinh nghiệm của con người. Sự hài lòng của cuộc sống là sự đánh giá tổng thể về cảm xúc và thái độ về cuộc sống của một người tại một thời điểm cụ thể từ tiêu cực đến tích cực. [dẫn theo 36, tr.
26] Theo Diener, Emmons, Larsen, & Griffen (1985): Sự hài lòng của cuộc sống được đặc trưng, phù hợp với lý thuyết nhận thức, như Đánh giá nhận thức của cá nhân về các so sánh dựa trên sự tương thích của họ điều kiện sống của riêng họ với các tiêu chuẩn. [dẫn theo 36, tr. 26] Sự hài lòng của cuộc sống được cho là có tiền đề trong lĩnh vực công việc, lĩnh vực gia đình và đặc điểm tính cách Ruut Veenhoven (1993) đã tóm tắt tốt nhất Sự hài lòng của cuộc sống; "Đời sống sự hài lòng là mức độ mà một người đánh giá tích cực về chất lượng cuộc sống của anh ấy / cô ấy”. [dẫn theo 36, tr.
26] Trong nghiên cứu gần đây tiến hành sự hài lòng của cuộc sống được đánh giá là mức độ của những cảm xúc tích cực có kinh nghiệm (Frish, 2006; như được trích dẫn trong Simsek, 2011). [dẫn theo 36, tr. 26] 14 Ngoài ra, cần kể đến các khái niệm có liên quan hoặc gần với sự hài lòng như là khái niệm cảm nhận hạnh phúc, hạnh phúc chủ quan, chất lượng cuộc sống: Hạnh phúc chủ quan được Diener, 2000, định nghĩa như là sự đánh giá nhận thức và tình cảm của một người đối với cuộc sống của họ. Những đánh giá này bao gồm phản ứng cảm xúc với các sự kiện, cũng như những đánh giá nhận thức về sự hài lòng và sự thỏa mãn trong cuộc sống.
Vì vậy, theo Diener hạnh phúc chủ quan là một khí niệm rộng bao gồm các trải nghiệm thỏa mãn, trạng thái cảm xúc tiêu cực ở mức thấp và sự hài lòng với cuộc sống ở mức cao (Diener, 2000).[dẫn theo 4] Một tác giả khác là Keyes, 2002, định nghĩa về hạnh phúc chủ quan là sự nhận thức và đánh giá của cá nhân về cuộc sống của mình, về các trạng thái cảm xúc, về các chức năng tâm lý và xã hội của bản thân. Theo cách hiểu của Keyes, hạnh phúc (well – being) có 3 thành tố: hạnh phúc cảm xúc, hạnh phúc tâm lý, hạnh phúc xã hội. tích cực và sự vận hành tốt các chức năng tâm lý xã hội. Hạnh phúc cảm xúc thể hiện qua một loạt những dấu hiệu biểu hiện những trạng thái tích cực về cuộc sống.
Hạnh phúc cảm xúc được đo bằng những trạng thái cảm xúc dương tính hoặc sự hài lòng cuộc sống nói chung. Hạnh phúc tâm lý thể hiện ở sự chấp nhận, hài lòng với bản thân; mối quan hệ tích cực với những người khác; sự phát triển cá nhân; mục tiêu chọn cuộc sống; làm chủ môi trường xung quanh; tự chủ, người hạnh phúc về mặt tâm lý là người hài lòng với hầu hết những gì ở bản thân, có những quan hệ ấm áp và tin tưởng, tin bản thân mình sẽ phát triển thành người tốt hơn, có định hướng trong cuộc sống, có thể làm chủ môi trường, làm thỏa mãn nhu cầu, làm chủ những quyết định của bản thân. Hạnh phúc xã hội thể hiện ở sự hài lòng với các mối quan hệ liên cá nhân và với môi trường xã hội xung quanh. Trong khi hạnh phúc tâm lý được đánh giá thông qua những tiêu chí mang tính chất cá nhân và riêng tư, thì hạnh phúc xã hội được đánh giá qua những tiêu chí mang tính chất công khai và xã hội: sự gắn kết xã hội; sự hiện thực hóa xã hội; sự hòa nhập xã hội; sự chấp nhận xã hội; và sự đóng góp xã hội.
Con người cảm thấy hạnh phúc về mặt xã hội khi họ cảm thấy sự vận hành xã hội là có ý nghĩa và có thể hiểu được; xã hội có tiềm năng cho con người 15 phát triển; cảm thấy họ thuộc về và được cộng đồng chấp nhận; cảm thấy họ chấp nhận phần lớn những gì trong xã hội; cảm thấy sự đóng góp của mình cho xã hội. [dẫn theo 4] Theo Upton và cộng sự (2008): “Chất lượng cuộc sống của trẻ tương ứng với mức độ hài lòng của trẻ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống của nó bao gồm sự thoải mái về mặt thể chất, xã hội, kinh tế và tâm lý”.895 - 913] Từ việc tham khảo những khái niệm của các tác giả trên, trong đề tài này theo chúng tôi: sự hài lòng là những phản ứng của con người được biểu hiện qua những đánh giá tích cực, cảm xúc dương tính và hành vi ủng hộ với những tác động của khách quan đến các lĩnh vực trong cuộc sống của họ. *Học sinh trung học cơ sở: Học sinh trung học cơ sở bao gồm những em có độ tuổi từ 11,12 tuổi đến 14,15 tuổi. Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường THCS.
Một số đặc điểm tâm sinh lý của học sinh trung học cơ sở Lứa tuổi học sinh THCS còn gọi là lứa tuổi thiếu niên, tuổi vị thành niên. Đây là giai đoạn phát triển có bước nhảy vọt cả về thể chất lẫn tinh thần, được thể hiện ở một số đặc điểm cơ bản như sau: *Đặc điểm về giải phẫu sinh lý Đây là lứa tuổi cơ thể phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều. Ở giai đoạn này chiều cao và trọng lượng cơ thể của trẻ tăng nhanh. Sự phát triển của hệ xương không đồng đều, vì thế ở các em bộc lộ sự vụng về, lóng ngóng, không khéo léo, thiếu thận trọng, hay làm đổ vỡ các đồ vật.Điều đó đã gây cho các em tâm lý khó chịu, không được thoải mái, nhất là khi có sự quan sát, nhận xét, đánh giá của người lớn đối với các em.
Hệ thống tim mạch của trẻ em lứa tuổi học sinh THCS cũng không cân đối dẫn đến một số rói loạn tạm thời của hệ tuần hoàn như tăng huyết áp, tim mạch đập nhanh, hay gây nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi khi làm việc. Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh, đặc biệt là tuyến giáp trạng, thường dẫn đến những rối loạn của hệ thần kinh. Vì vậy mà trẻ em ở lứa tuổi này dễ xúc động, dễ bực tức, dẫn đến có những phản ứng gay gắt, mạnh mẽ. Hệ thần kinh của 16 trẻ chưa đạt độ vững vàng nên chưa có khả năng chịu đựng những kích thích mạnh, đơn điệu, kéo dài.
Những kích thích kiểu này thường gây cho trẻ em tình trạng bị ức chế, hoặc có thể bị kích động mạnh. Điều đáng chú ý là lứa tuổi học sinh THCS còn là thời kì phát dục của con người. Đó là hiện tượng bình thường, diễn ra theo quy luật sinh học và chịu ảnh hưởng của môi trường tự n hiên và môi trường xã hội, nhưng đối với trẻ em lần đầu tiên xuất hiện hiện tượng này thì lại là vấn đề cần có sự chuẩn bị và cần được sự chỉ dẫn giúp đỡ của người lớn, đặc biệt là đối với các em gái. *Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh THCS Hoạt động học của học sinh THCS diễn ra theo phương thức học – hành, học và hành gắn với nhau.
Đây là bậc học có tính lý luận gắn với thực hành theo từng môn học có tính chuyên sâu. Nhờ vậy mà qua hoạt động học, từng bước học sinh có được các khái niệm khoa học và bước đầu hiểu được nhận thức về tính quy luật của các hiện tượng, sự vật, bước đầu hình thành được các chuẩn mực về tự nhiên, về xã hội và về con người. Về hoạt động học của học sinh THCS, có hai quan niệm khác nhau: Có quan niệm cho rằng hoạt động học không còn là hoạt động chủ đạo, quan niệm khác cho rằng hoạt động học và hoạt động giao tiếp nhóm là hai hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này. Theo chúng tôi, hoạt động giao tiếp nhóm là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh THCS, được dựa trên cơ sở của hoạt động cơ bản là hoạt động học.41 - 43] Các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng, ở thời kì đầu của lứa tuổi học sinh THCS chưa có kỹ năng cơ bản để tổ chức tự học.
Bắt đầu ở lứa tuổi này cũng là bắt đầu hình thành mức độ hoạt động học tập cao nhất. Đối với các em ý nghĩa của hoạt động học tập dần dần được xem như là hoạt động độc lập hướng vào sự thỏa mãn nhu cầu nhận thức. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy động cơ học tập của học sinh THCS có một cấu trúc phức tạp, trong đó các động cơ xã hội khác nhau được kết hợp thành một khối (học tập để phục vụ xã hội, để lao động tốt…). Những động cơ nhận thức và những động cơ riêng (ví dụ như muốn có uy tín, có địa vị trong lớp…) liên quan với lòng mong muốn tiến bộ và 17 lòng tự trọng.
Nhiều khi ta lại thấy có sự mâu thuẫn giữa sự mong muốn trao đổi tri thức với thái độ bàng quan và thậm chí thái độ xấu đối với học tập, thái độ “phớt đời” đối với điểm số. Sở dĩ có tình trạng trên, là do các nguyên nhân: Do phản ứng độc đáo của lứa tuổi này đối với thất bại trong học tập; do xung đột với giáo viên.