MỞ ĐẦU Nâng cao chất lƣợng dân số đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế xã hội là một trong những mục tiêu của phát triển. Do đó việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực cho xã hội là vấn đề cấp thiết. Trong đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng và Nhà nƣớc ta đã xác định: “Tiếp tục quán triệt Giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển Giáo dục và Đào tạo” [20]. Với mục tiêu Giáo dục toàn diện (đức, trí, lao, thể, mỹ) cho học sinh ở mọi lứa tuổi theo hƣớng bồi dƣỡng, nâng cao chất lƣợng mũi nhọn và không ngừng thúc đẩy, nâng cao chất lƣợng đại trà.
Ngành giáo dục đã và đang đổi mới nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp dạy học, trang thiết bị và cơ sở vật chất nhằm thúc đẩy nhanh quá trình đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Tuy nhiên, sự đổi mới này chỉ có hiệu quả cao khi áp dụng đúng với từng đối tƣợng học sinh, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, năng lực nhận thức của học sinh ở từng lứa tuổi. Thực tế cho thấy phải dựa vào những hiểu biết về thể trạng và năng lực trí tuệ của học sinh thì mới có phƣơng pháp đúng đắn và hữu hiệu đối với sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo. Tuổi dậy thì rất nhạy cảm, hiểu biết về tuổi dậy thì rất cần thiết đối với cá nhân mỗi em và đặc biệt quan trọng đối với phụ huynh, các nhà hoạt động giáo dục.
Đến nay, trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về lứa tuổi dậy thì và các chỉ số sinh học trên các đối tƣợng là học sinh, điển hình là các công trình nghiên cứu trên các đối tƣợng học sinh từ 6 đến 17 tuổi [13, 16, 18, 23, 50]. Các kết quả nghiên cứu của các công trình này cho thấy, các chỉ số về hình thể và hoạt động thần kinh đang tăng dần, tuổi dậy thì đang có xu hƣớng đến sớm hơn đối với các đối tƣợng học sinh. Các chỉ số sinh học của con ngƣời thay đổi theo lứa tuổi và điều kiện xã hội đặc biệt là học sinh cấp THCS. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu cụ thể ở địa phƣơng Ninh 1 Bình chƣa nhiều, đặc biệt ở huyện Yên Mô.
Để góp phần cung cấp các số liệu cụ thể và một số phân tích khách quan cho chƣơng trình nâng cao chất lƣợng dân số huyện Yên Mô nói riêng, tỉnh Ninh Binh và cả nƣớc nói chung. Vì vậy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, chỉ số cảm xúc và chỉ số vượt khó của học sinh trung học cơ sở ở 2 xã huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình” với các mục tiêu sau : - Đánh giá đƣợc thực trạng của một số chỉ số về hình thái, cảm xúc và vƣợt khó ở tuổi 12 - 15 của học sinh trƣờng THCS Yên Lâm và trƣờng THCS Yên Thái, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. - Xác định mối liên quan giữa chỉ số vòng ngực trung bình với vòng eo và với vòng mông. - Xác định tuổi dậy thì chính thức của học sinh trƣờng THCS Yên Thái và trƣờng THCS Yên Lâm, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HÌNH THÁI CƠ THỂ NGƢỜI 1. Một số nghiên cứu về hình thái cơ thể ngƣời trên thế giới Một trong số các vấn đề đƣợc nhiều ngƣời quan tâm khi nghiên cứu con ngƣời là hình thái. Thời phục hƣng các nhà giải phẫu học kiêm họa sĩ nhƣ Leonard De Vinci, Mikenlangielo, Raphael… đã tìm hiểu rất kỹ về cấu trúc và mối tƣơng quan giữa các bộ phận trong cơ thể để đƣa lên các tác phẩm hội họa của mình.
Mối quan hệ giữa hình thái với môi trƣờng sống cũng đƣợc nghiên cứu tƣơng đối sớm mà đại diện là các nhà nhân trắc học Ludman, Nold và Volanski [theo 35]. Từ việc đo đạc các kích thƣớc cơ thể con ngƣời có thể rút ra các kết luận phục vụ thực tiễn hàng ngày nhƣ trong công tác điều tra y tế, các ngành kinh tế quốc dân nhƣ: xây dựng các tiêu chuẩn kích thƣớc ngƣời để thiết kế các máy móc, các phƣơng tiện sản xuất (nhà cửa, ô tô…), các phƣơng tiện sinh hoạt (giƣờng, tủ, giày, dép…). Về mặt lý luận chúng cho phép chúng ta phát hiện ra các quy luật về sự phát triển cơ thể con ngƣời, về phân loại các dạng ngƣời và các nhóm chủng tộc loài ngƣời cũng nhƣ tìm hiểu nguồn gốc loài ngƣời vào đầu thế kỷ XX những nghiên cứu về thể lực trở thành một môn khoa học thực sự với đầy đủ ý nghĩa và tính chính xác của nó. Ngƣời đặt nền móng cho nhân trắc học hiện đại là Rudolf Martin qua hai tác phẩm nổi tiếng: "Giáo trình về nhân trắc học" năm 1919 và "Kim chỉ nam đo đạc và xử lý thống kê" năm 1924.
Trong các công trình này ông đã đề xuất một số phƣơng pháp và dụng cụ đo đạc các kích thƣớc của cơ thể cho đến nay vẫn đƣợc sử dụng. Sau Rudolf Martin đã có nhiều công trình bổ sung và hoàn thiện thêm các đề xuất của ông cho phù hợp với thực tiễn của mỗi nƣớc. Vấn đề nhân 3 trắc học còn đƣợc thể hiện qua các công trình nghiên cứu của P. Baskirov trong cuốn "Nhân trắc học" (1962) ông đã đƣa ra quy luật phát triển cơ thể ngƣời dƣới ảnh hƣởng điều kiện sống, Evan Dervael trong cuốn "Nhân trắc học" (1964) đã đƣa ra nhận xét toàn diện về các quy luật phát triển thể lực theo giới tính, lứa tuổi và nghề nghiệp [31, 62, 63].
Cũng trong khoảng thời gian này, đi sâu vào nghiên cứu sự tăng trƣởng về mặt hình thể ngƣời gắn liền với nghiên cứu các đại lƣợng có thể đo lƣờng đƣợc bằng kỹ thuật nhân trắc. Công trình đầu tiên là do Christian Fridrich Jumpert ngƣời Đức công bố năm 1754. Trong luận án Tiến sĩ của mình ông đã nghiên cứu sự tăng trƣởng một cách hoàn chỉnh ở các lớp tuổi từ 1 đến 25. Công trình này đƣợc nghiên cứu theo phƣơng pháp cắt ngang (Cross - sectional study) là phƣơng pháp đƣợc dùng phổ biến với ƣu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện đƣợc nhiều đối tƣợng cùng một lúc.
Cũng trong khoảng thời gian này P. Montbeilard thực hiện nghiên cứu dọc (Longitudinal study) đầu tiên trên con trai mình liên tục trong 18 năm từ khi sinh ra (năm 1759) đến năm 18 tuổi (năm 1777). Sau đó còn có nhiều công trình khác của Edwin Chadwick (Anh), Carlchule (Đức), H. Vào năm 1977, Hiệp hội các nhà tăng trƣởng học đã thành lập đánh dấu bƣớc ngoặt trong nghiên cứu về hình thái con ngƣời trên thế giới.
Năm 2007, WHO công bố chuẩn tăng trƣởng của trẻ em học đƣờng và ngƣời trƣởng thành đánh dấu một mốc quan trọng cho các nghiên cứu ứng dụng của các chỉ số hình thái để đánh giá tình trạng dinh dƣỡng và phát triển thể lực của con ngƣời [63, 72]. Một số nghiên cứu về hình thái cơ thể ngƣời ở Việt Nam So với các nƣớc trên thế giới, ở Việt Nam các nghiên cứu về hình thái diễn ra muộn hơn, điều này thể hiện ở công trình nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trƣởng chiều cao, cân nặng trẻ em là của Mondiere vào năm 1875, vào thế kỷ XX tại trƣờng Đại học Y khoa Đông Dƣơng (1936–1944) đã xuất 4 hiện các công trình nghiên cứu của P. Những công trình này đã nêu đƣợc các đặc điểm nhân trắc của ngƣời Việt Nam đƣơng thời [62, 63]. Từ năm 1954 đến nay, việc nghiên cứu hình thái học đã đƣợc đẩy mạnh, chuyên môn hoá và các hội nghị cấp quốc gia, địa phƣơng về lĩnh vực này đƣợc tổ chức nhiều lần.
Năm 1975 cuốn “Hằng số sinh học của ngƣời Việt Nam” do GS. Nguyễn Tấn Gi Trọng chủ biên đƣợc xuất bản. Đây là công trình khá hoàn chỉnh về các chỉ số sinh học ngƣời Việt Nam ở mọi lứa tuổi, trong đó có lớp tuổi từ 12 đến 15 tuổi. Đây là công trình nghiên cứu của tập thể các nhà khoa học y học, đại diện cho các chuyên khoa, chuyên ngành Y học Việt Nam.
Tuy nhiên, đây mới chỉ là các chỉ số sinh học của ngƣời miền Bắc (do hoàn cảnh lịch sử). Song nó thực sự là chỗ dựa tin cậy cho các nghiên cứu về ngƣời Việt Nam sau này [64]. Sau năm 1975, khi đất nƣớc hoàn toàn thống nhất, việc nghiên cứu hình thái của trẻ em đƣợc nhiều tác giả thực hiện. Điển hình là Thẩm Thị Hoàng Điệp đã nghiên cứu dọc trên 101 học sinh Hà Nội từ 6 -17 tuổi.
Với 31 chỉ tiêu đƣợc nghiên cứu tác giả đã kết luận: chiều cao của học sinh phát triển mạnh nhất với nữ 11 - 12 tuổi và ở nam 13 - 15 tuổi, còn cân nặng phát triển mạnh nhất với nữ 13 tuổi và nam 15 tuổi. Tác giả cũng nhận thấy rằng, quy luật phát triển theo giai đoạn chỉ phù hợp với quy luật chiều cao, còn quy luật phát triển kích thƣớc các vòng gần giống quy luật phát triển cân nặng. Năm 1989, Thẩm Thị Hoàng Điệp và cs nghiên cứu về sự phát triển chiều cao, vòng ngực, vòng đầu của trên 8000 ngƣời Việt Nam tuổi từ 1 - 55 ở ba miền (Bắc, Trung, Nam). Các tác giả đã nhận xét rằng, chiều cao trung bình của nam trƣởng thành là 163 cm và nữ là 158 cm.
Chiều cao tăng nhanh đến tuổi 18 ở nam còn ở nữ đến tuổi 14. Vòng ngực trung bình của nam 5 trƣởng thành là 78 - 80 cm, vòng đầu là 55 - 56 cm, còn ở nữ tƣơng ứng bằng 79 cm và 54 - 55 cm [22, 23]. Năm 1991, Đào Huy Khuê đã nghiên cứu 36 chỉ tiêu kích thƣớc liên quan với sự tăng trƣởng và phát triển cơ thể của 1478 học sinh từ (6 - 17) tuổi ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Sơn Bình. Tác giả nhận thấy, hầu hết các chỉ số sinh học đều tăng dần theo tuổi nhƣng nhịp độ tăng trƣởng không đều.
Tốc độ tăng trƣởng lớn nhất ở nam thƣờng ở lứa tuổi (14 - 16) và của nữ ở lứa tuổi (11 - 15) [40]. Từ năm 1991 - 1995, nhóm tác giả Trần Văn Dần và cs đã nghiên cứu trên học sinh một số tỉnh thành là Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Bình và nhận thấy, so với dẫn liệu trong cuốn "Hằng số sinh học ngƣời Việt Nam" thì sự phát triển chiều cao của trẻ em 6 - 16 tuổi tốt hơn, đặc biệt trẻ em thành phố, thị xã, còn ở khu vực nông thôn chƣa thấy có sự thay đổi đáng kể [15].