Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE SU HAI LONG TRUONG HỌC CUA HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan một số nghiên cứu sự hài lòng về trường học của học sinh 1. Một số nghiên cứu nước ngoài Trường học là nơi học sinh được học tập kiến thức, kĩ năng, văn hóa, cách ứng xử, lối sống, định hướng bản thân, định hướng tương lai, chia sẻ cảm xúc. Vì vậy, những trải nghiệm của học sinh ở trường học là vô cùng quan trọng đối với việc đánh giá sự hài lòng của các em.
Các nhà nghiên cứu trên thế tìm hiểu sự hài lòng về trường học của học sinh trên nhiều phương diện. Có những nghiên cứu đi sâu vào việc tìm kiếm mối tương quan giữa nhà trường và học sinh ở những khía cạnh khác nhau; có những nghiên cứu lại nhìn nhận sự hài lòng về trường học của học sinh như chỉ báo về cảm nhận hạnh phúc nói chung. (2006) trong nghiên cứu: “Teachers’ self - efficacy beliefs as determinants of job satisfaction and student’s academic achievement: A study at the school level” nghiên cứu về “niềm tin vào năng lực của giáo viên là yếu tố quyết định sự hài lòng và thành tích học tập của sinh viên”. Nghiên cứu phỏng vấn giáo viên của 102 trường trung học cơ sở, chiếm 75% so với phân tang mẫu ngẫu nhiên tại Ý.
Kết quả thu thập được ở lần 1 và lần 3 về thành tích học tập của học sinh; ở lần 2 về niềm tin vào năng lực và sự hài lòng với giáo viên. Nghiên cứu lấy lý thuyết nhận thức xã hội làm cơ sở khoa học, đã chứng minh được niềm tin về năng lực bản thân của giáo viên trong việc duy trì sự hài lòng và thành tích của trẻ (Bandura, 2001); lý thuyết này hướng tới các biện pháp nhằm mục đích thúc day năng lực của giáo viên ở trường và việc học tập của hoc sinh. Mặc dù, không chắc về sự hài lòng của giáo viên khi được hỗ trợ về năng lực, giống như không thé loại trừ khả năng sự hài lòng của người lao động có thể góp phần vào hiệu suất trong các hoạt động của công ty. Hơn nữa, hiệu suất đó chủ yếu phụ thuộc vào về cảm xúc tích cực của các cá nhân khác nhau.
Đặc biệt, điều này có thể xảy ra trong những công việc đòi hỏi kỹ năng thấp và sự phụ thuộc lẫn nhau cao. Khi đó sự hài lòng chủ yếu xuất phát từ việc mọi người đối xử tốt với nhau hơn là từ cảm giác có thâm quyên của người lãnh đạo. Tuy nhiên, điều này khác so với hoạt động như giảng dạy và truyền đạt kiến thức, kết quả không thể phụ thuộc vào các nguồn khác ngoài năng lực của giáo viên. Mặc dù, ngày nay ảnh hưởng của giáo viên quan trọng hơn so với trước đây, việc học của học sinh vẫn chủ yếu phụ thuộc vào năng lực truyền tải kiến thức của giáo viên.
Hetland & Wold B, 2009, trong nghiên cttu “School - Related Social Support and Students’ Perceived Life Satisfaction” đưa ra ảnh hưởng của hỗ trợ xã hội liên quan đến trường hoc từ phía giáo viên, ban bè và phụ huynh đối với sự hài lòng của học sinh. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự hài lòng về trường học và năng lực học thuật, năng lực bản thân của học sinh nói chung tương ứng và tương quan thuận với nhau. Sự hài lòng của học sinh càng cao thì năng lực học thuật và năng lực của học sinh càng cao và ngược lại. Các tác giả dựa trên các phân tích về dữ liệu từ một mẫu đại diện trên toàn quốc gồm các học sinh 13 và 15 tuổi (N = 3.358) của Tổ chức Y tế Thế giới lần thứ 6 về Hanh vi sức khỏe ở trẻ em ở độ tuổi đi học (C.
Currie và cộng sự, 2004; T. Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích mô hình hóa cấu trúc thông qua chương trình thống kê Mplus (tái bản lần 5; LK Muthen & BO Muthen, 2007). Kết quả thu được đã khẳng định tầm quan trọng của các lĩnh vực liên quan đến bản thân, chăng hạn như năng lực bản thân nói chung, đối với sự hài lòng trong cuộc sống của sinh viên. Sự hỗ trợ giáo viên cũng liên quan mạnh mẽ đến sự hài lòng về trường học của học sinh.
Hơn nữa, kết quả cũng cho thấy kết thành tích học tập, giới tính của học sinh cũng tương quan với sự hài lòng của học sinh với nhà trường. (2000) đưa ra nghiên cứu “Correlates of School Satisfaction Among Adolescents. The Journal of Educational Research”. Nghiên cứu nay tìm hiểu về nhận thức của sinh viên và chi ra: “hiệu quả học tập của sinh viên không làm giảm bớt mối quan hệ giữa các sự kiện cuộc sống và sự hài lòng với trường học”.
Tuy nhiên, nhận thức về năng lực của bản thân đã gop phan thay đổi đáng kể theo kiểu tuyến tính ngoài kinh nghiệm sống. Các tác giả kết luận rang: “một loạt các trải nghiệm môi trường tiêu cực, tích cực và các biên sô khác biệt có thê cho thấy phản ứng của thanh thiếu niên đối với việc học. Từ đó có thê thiết kế các chương trình can thiệp và phòng ngừa trong trường học”. Mối quan hệ giữa kinh nghiệm sống, hiệu quả học tập và báo cáo sự hài lòng của 92 thanh thiếu niên trong một trường trung học tư thục đã được điều tra.
Kết quả cho thấy kinh nghiệm sống, cả tích cực và tiêu cực, có liên quan đáng kê đến các báo cáo hài lòng về trường học của học sinh. Tác gia Diener, Suh, Lucas, & Smith, 1999; Shin & Johnson năm 1978 cho rằng: “Chat lượng cuộc sông được nhận biết thông qua sự đánh giá chủ quan của một cá nhân về chất lượng cuộc sống của bản thân một cách tổng thể trong các lĩnh vực cụ thể như: gia đình, nhà trường, môi trường sống”. Có nhiều định nghĩa được xây dựng về hạnh phúc tích cực, nhưng khái niệm về hài lòng cuộc sông hay chất lượng cuộc sông được sử dụng trong trường học lại thường xuyên được sử dụng như một chỉ báo phổ quát cho sự hạnh phúc của học sinh (Huebner, 2004). Tác giả Cock và Halvari (1999) chỉ ra một mối liên kết tích cực giữa thành tích học tập và sự hài lòng học đường như sau: những trẻ đạt thành tích tốt thường có xu hướng hài lòng với nhà trường hơn.
Tuy nhiên, chỉ đánh giá qua điểm số của học sinh sẽ không đủ dé các em hài lòng với nhà trường (Epstein and McPartland, 1976). Theo Huebner and McCullough, 2000 thì: “Cốt lõi của van đề là sự nhận thức rằng một người có năng lực hoặc có khả năng và sự tự tin về học thuật có liên quan tới sự hài lòng về môi trường học đường”. Việc học sinh có các thành tích học tập tích cực có thể làm học sinh có thêm sự hài lòng với môi trường trường học. Theo tac gia William Pavot và Ed Diener trong “Đánh giá sự hài lòng với quy mô cuộc sống”: sự hài lòng với quy mô cuộc sống (SWLS — Satisfaction With Life Scale) đã được phát triển dé đánh giá toàn bộ cuộc sống.
Thang đo không đánh giá sự hài lòng với các lĩnh vực cuộc sống như: sức khỏe, tài chính nhưng cho phép nhập số liệu những van dé đó theo bat cứ cách nào. Dữ liệu chuẩn cho thay độ hiệu lực cao so với các thang đo khác trong việc đánh giá hạnh phúc chủ quan. Sự hài lòng của cuộc sống được đánh giá bởi SWLS cho thấy mức độ ôn định theo thời gian. Thang đo SWLS cũng cho thấy đủ độ nhạy, có giá trị tiềm năng để phát hiện sự thay đổi trong cuộc sống của những người được đánh giá trong quá trình can 10 thiệp lâm sàng.
Hơn nữa, thang đo cho thấy sự phân biệt giữa các nhóm được đánh giá do có đời sống tình cảm hạnh phúc. Thang đo SWLS được sử dụng như một sự bổ sung cho các thang đo tập trung vào tâm lý học hoặc hạnh phúc cảm xúc bởi vì nó đo lường sự đánh giá có ý thức của một cá nhân về cuộc sống của người đó băng cách sử dụng những tiêu chí riêng của đánh giá. Theo tác giả See Osterman năm 2000: “Những học sinh được các bạn bè chấp nhận, chơi cùng thường có khả năng yêu thích trường học hơn”. Tác giả Okun và cộng sự năm 1990 cho rằng “trẻ gái có sự hài lòng với môi trường học đường nhiều hơn trẻ trai”.
Các nghiên cứu khác cũng đưa ra kết quả tương tự như của tác giả Epstein, 1981 như tác giả Rosenberg (1979) cho rằng sự tương đồng hoặc không tương đồng xã hội của trẻ với những người xung quanh có ảnh hưởng đến sự hài lòng về trường học và chất lượng cuộc sống của trẻ. Trong một môi trường phù hợp về mặt dân tộc, tôn giáo, trẻ được bảo vệ tốt hơn khỏi những trải nghiệm tiêu cực như sự định kiến và phân biệt đối xử; trong khi ở một bối cảnh không phù hợp, trẻ bị bắt nạt nhiều hơn, những trợ giúp xã hội cũng ít xảy ra hơn. Chính vì thế trẻ cũng sẽ hài lòng hoặc không hài lòng về môi trường trẻ đang trực tiếp sinh sống. “Việc phát triển chuyên môn của giáo viên có ảnh hưởng đến việc thực hiện chương trình giảng dạy và việc học tập của học sinh” đó là nhận định của tác giả Craig (Craig, 2003).
Một số nghiên cứu khác đã khai thác cụ thé hơn những van đề mà xã hội quan tâm: một là triển khai sách giáo khoa mới ảnh hưởng như thế nào đến đội ngũ giáo viên và học sinh (Fathy Shawer, Gilmore, & Rae Banks-Joseph, 2008; Randolph, Duffy, & and Mattingly, 2007); hai là các phương pháp giảng dạy có ảnh hưởng như thế nào đến sự phát triển đội ngũ giáo viên (Roehrig, Kruse, & Kern, 2007; S. Shawer, 2017); ba là phát triển đội ngũ giáo viên có chuyên môn có ảnh hưởng ra sao đến việc triển khai áp dụng sách giáo khoa và kết quả học tập của học sinh. Theo đó các tác giả điều tìm ra những mối liên hệ giữa phương pháp giảng dạy, chương trình sách giáo khoa mới, phát triển đội ngũ giáo viên có tương quan thuận với nhau. Theo mô hình của Randolph, Kangas, Roukamo năm 2009 cho rằng: sự hạnh phúc nói chung bao gôm những đánh giá tích cực về sự hài lòng vê cuộc sông, trong 11 đó không bao gồm các đánh giá tiêu cực về bản thân, gia đình, bạn bè, trường học, môi trường xã hội.
Trong đó sự hài lòng về trường học của học sinh nói chung được hiểu như là sự hạnh phúc ở trường học. Và hơn nữa sự hài lòng ở đây được hiéu là những đánh giá tích cực của chủ thể.