CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC 1. Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề Tự học và quản lí hoạt động tự học là một vấn đề đã được nhiều nhà giáo dục học quan tâm nhằm phát huy tính tích cực, tính độc lập, tính tự giác, tính sáng tạo của người học. Vấn đề tự học có tính truyền thống và tính phổ biến không chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề của thế giới. Song ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, ở mỗi quốc gia nhất định, vấn đề tự học được nghiên cứu đề cập dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Ở nước ngoài Ở phương Đông, ngay từ thời Trung Hoa cổ đại, nhà giáo dục lỗi lạc - Khổng Tử (551 - 479, tr CN) đã sớm nhận thấy vai trò quan trọng của tự học, ông luôn quan tâm và coi trọng vai trò tích cực chủ động suy nghĩ của người học. Ông cho rằng: Đồng thời với việc hướng dẫn của người thầy, người học phải tích cực suy nghĩ, tìm tòi khám phá để lĩnh hội tri thức. Ông đã dạy học trò: “Không khao khát và không muốn biết thì không gợi cho, không cảm thấy xấu hổ vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa”.
Theo ông, trong việc học người học không những phải tích cực chủ động trong học tập, phải biết kết hợp học với nghĩ, biết phát huy năng lực sáng tạo của bản thân mà người học cần phải học ở mọi nơi, mọi lúc: Học bất cứ ai, học bất cứ nơi nào, lúc nào. Trong ba người đồng hành tất phải có một người là thầy ta. Chính từ những quan điểm về học tập như thế nên ông đã rất thành công trên con đường “dạy học” của mình. 7 Ở phương Tây, ngay từ thời cận đại, trong quá trình truyền thụ kinh nghiệm xã hội cho thế hệ sau, các nhà khoa học đã rất quan tâm đến tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
Nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp Khắc J.Comenxki (1592 -1670) - ông tổ của nền giáo dục cận đại đã khẳng định: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành tài năng, cần phải làm thức tỉnh và duy trì khát vọng học tập trong học sinh”. Như vậy, ông đã đánh giá rất cao vai trò của tự học, sự tích cực, chủ động của người học đối với hoạt động học tập [15]. Ở Việt Nam Hoạt động tự học thực sự được xã hội quan tâm và nó đã trở thành một truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về ý chí quyết tâm trong tự học và tự rèn luyện.
Người đã động viên toàn dân: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc tự học là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đó phải tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” [21]. Trong tác phẩm “Sửa đổi lề lối làm việc” Người đã chỉ rõ: “Phải lấy tự học làm cốt, cần có thảo luận và chỉ đạo hỗ trợ vào, cần phải biết sắp xếp thời gian và bài học khéo và mạch lạc với nhau”. Hơn nửa thế kỷ đã qua, tư tưởng giáo dục của Người đã trở thành tư tưởng và lí luận cho đường lối chính sách giáo dục ở nước ta. Nghị quyết hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học”.
Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của học sinh - sinh viên, đề cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề, đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân. Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường đã thống nhất quan điểm rằng: dạy là “ngoại lực”, tự học là “nội lực”. 8 Tạ Quang Bửu: “Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo đồng thời là cái nôi nuôi dưỡng trí sáng tạo. Ai giỏi tự học ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường người đó sẽ tiến xa”.
Quán triệt đường lối của Đảng về giáo dục, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX đã có nhiều nhà nghiên cứu về vấn đề tự học với khẩu hiệu trong nhà trường là “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”. Tiêu biểu như các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, Trần Bá Hoành, Vũ Quốc Chung, Thái Duy Tuyên. Trong những năm gần đây, có một số luận văn thạc sĩ đã quan tâm nghiên cứu nhằm khai thác và vận dụng vào thực tiễn những biện pháp nhằm tăng cường, tổ chức hoạt động tự học ở một số trường CĐ và ĐH góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học nói chung và quá trình tự học của SV nói riêng, tiêu biểu như: Hoàng Văn Chính, Nguyễn Thị Mai Lan, Trịnh Khắc Hậu, Nguyễn Thị Bích Phượng, Lê Thành Thế,. Từ những góc độ khác nhau, các tác giả đều đề cập đến vai trò, vị trí, tầm quan trọng của tự học; thực trạng của hoạt động tự học và đưa ra các phương pháp và biện pháp để nâng cao hiệu quả của hoạt động tự học và đã khẳng định rõ: Tự học có vai trò rất quan trọng trong quá trình đào tạo.
Đó là cách thức giúp người học phát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức khoa học. Như vậy, ta thấy rằng vấn đề tự học, ý nghĩa của hoạt động tự học, phương pháp tự học đã được nhiều nhà nghiên cứu giáo dục quan tâm. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân nên việc nghiên cứu và tổ chức triển khai hoạt động tự học chưa mang lại hiệu quả. Cách dạy và cách học phổ biến trong trường học (phổ thông và CĐ, ĐH) vẫn còn thụ động, SV nhớ kiến thức chủ yếu thông qua nghe giảng chứ chưa thực sự tìm kiếm tri thức thông qua hoạt động tự nghiên cứu tài liệu.
Đa số SV còn lúng túng trong nhận thức và phương pháp tiến hành các hoạt động tự học, do đó kết quả tự học chưa cao. 9 Về vấn đề quản lí hoạt động tự học gần đây đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Có thể điểm qua một số bài viết, công trình của các tác giả có bàn đến việc quản lí hoạt động tự học cho SV, học viên như: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Vân (2007) nghiên cứu về “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Pháp Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học quốc gia Hà Nội”. Luận văn thạc sĩ của Hồ Phạm Minh Châu (2008): “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên Khoa Giáo dục Mầm non Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An”.
Luận văn thạc sĩ của Mai Văn Minh (2012): “Biện pháp quản lí hoạt động tự học của học viên tại Học viện Chính trị - Hành chính Khu vực III”. Nhìn chung, các tác giả đã khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa của hoạt động tự học của SV, học viên và đã nêu lên được thực trạng hoạt động tự học của SV, học viên. Tìm ra được một số nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động tự học, bước đầu đưa ra được một số biện pháp góp phần bồi dưỡng năng lực tự học nhằm khắc phục những hạn chế, phát huy những yếu tố tích cực tác động đến quá trình tự học của SV và học viên. Đặc biệt, hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề quản lí hoạt động tự học của SV chuyên ngành sư phạm Âm nhạc - một ngành mang tính đặc thù, đào tạo giáo viên dạy Âm nhạc, góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh phổ thông.
Ở Trường Đại học Đồng Tháp, vấn đề hoạt động tự học của SV nói chung và việc quản lí nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tự học của SV Khoa Sư phạm Nghệ thuật nói riêng thì chưa được tác giả nào nghiên cứu. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Tự học và hoạt động tự học 1. Tự học 10 Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bản thân người học bằng hành động của chính mình, hướng tới những mục đích nhất định.
Đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề tự học ở nhiều góc độ khác nhau. Dưới đây là một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về vấn đề này: Thông thường khái niệm “Tự học” được hiểu là “Tự học lấy một mình trong sách chứ không có thầy dạy” (Theo Thanh Nghị, trong Việt Nam tân từ điển) cũng có thể hiểu là “Tự đi tìm lấy kiến thức có nghĩa là tự học”. Tác giả Nguyễn Hiến Lê, trong quyển “Tự học - một nhu cầu thời đại” ông cho rằng khái niệm “Tự học là không ai bắt buộc mà mình tự tìm tòi, học hỏi để hiểu biết thêm và có thầy hay không, ta không cần biết. Người tự học hoàn toàn làm chủ mình, muốn học môn nào tuỳ ý, muốn học lúc nào cũng được, đó mới là điều kiện quan trọng”.
Ông cũng bổ sung để làm rõ hơn về khái niệm và tầm quan trọng của tự học "Mỗi người đều nhận hai thứ giáo dục: Một thứ, do người khác truyền cho, một thứ quan trọng hơn nhiều, do mình tự kiếm lấy" [16, tr. Theo tác giả Lê Khánh Bằng: "Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa học nhất định" [5, tr. Quan điểm này, tác giả cho rằng tự học là việc học của chính bản thân người học, chính họ phải huy động các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lí để chiếm lĩnh những tri thức khoa học của loài người và biến những tri thức đó thành vốn kinh nghiệm của bản thân. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và có cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, cả động cơ tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.
Việc tự học sẽ được tiến hành khi người học có nhu cầu muốn hiểu biết một 11 kiến thức nào đó và bằng nỗ lực của bản thân cố gắng chiếm lĩnh được kiến thức đó” [28].