Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN CẤP HUYỆN 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Phát triển nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tế - xã hội. Giáo dục và Đào tạo thế hệ trẻ thành lực lượng lao động kỹ thuật là quá trình liên tục với nhiều thành tố của kiến thức, kỹ năng và thái độ từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, hướng tới hình thành, phát triển nhân cách toàn diện.
Dạy học nghề cho học sinh phổ thông được coi là cầu nối giữa giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp. Các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục ở các nước đặc biệt quan tâm tới vấn đề phân hóa trong giáo dục và coi đó là một nguyên tắc tất yếu trong dạy học. Song, có lẽ việc thu hút quan tâm nhiều nhất của các nhà khoa học, các nhà quản lý giáo dục của nhiều nước hiện nay chính là hướng nghiệp và dạy học nghề cho học sinh. Việc chọn nghề đứng đắn có ý nghĩa to lớn trong việc thích ứng nghề nghiệp, phát triển năng lực và tạo nên hứng thú động cơ đúng đắn trong lao động.
Tuy nhiên, trong những năm cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, dẫn tới sự bùng nổ thông tin, làm cho các ngành nghề thay đổi liên tục. Điều đó buộc các nhà khoa học phải xem xét lại một số quan niệm truyền thống đã từng đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong lịch sử DHNPT. Vì thế, trong những năm gần đây các nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục cho rằng nếu coi con người là trung tâm của hoạt động giáo dục, học tập và sản xuất thì cần phải xem xét lại công tác DHNPT dưới góc độ mới. Đó là cần được tiến hành trong cả quá trình phát Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn triển nghề nghiệp của con người, ở tất cả các giai đoạn của nó có tính đến ảnh hưởng của tiến bộ khoa học công nghệ.
DHNPT được coi là một bộ phận cấu thành của quá trình GD&ĐT là một trong các định hướng hoạt động của nhà trường. Song phương hướng này chỉ có thể đạt được hiệu quả cao khi lãnh đạo nhà trường, các nhà quản lý cơ sở giáo dục biết tổ chức các mặt hoạt động một cách đồng bộ, cùng tác động vào người học nhằm hình thành nhân cách nghề nghiệp, kỹ năng và tay nghề cho học sinh. Nhiều công trình khoa học nghiên cứu của các nhà giáo dục các nước tập trung vào lĩnh vực dạy nghề. Nổi bật là các nước Đức, Liên Xô (cũ) và hiện nay khá phát triển ở Liên Bang Nga đã chính thức đưa hoạt động giáo dục, giáo dục lao động và hướng nghiệp cho học sinh.
Ở Cộng hòa liên bang Đức, các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học như Walfgang Schulzl lại xác định DHNPT là hoạt động dạy học lao động kỹ thuật nhằm làm sáng tỏ thêm những kiến thức có liên quan được truyền thụ cho học sinh, giúp cho học sinh nắm vững kiến thức cơ bản nhất, dễ dàng phát triển, hòa nhập với cuộc sống lao động xã hội. Thông qua đó học sinh hình thành những kỹ năng lao động kỹ thuật, thể hiện quan điểm học đi đôi với hành. Việc quản lý DHNPT ở mô hình này được thực hiện toàn bộ trong phạm vi nhà trường phổ thông. Chính vì thế ở Đức không thể nào có một người gọi là thợ điện, thợ hồ, thợ cắt tóc hay bất cứ ngành nghề nào khác mà lại không có bằng cấp học nghề, nghĩa là đã tốt nghiệp học nghề theo quy định của nhà nước.
Người học nghề còn phải học văn hóa, lại có cơ hội học thêm về quản trị xí nghiệp nếu họ muốn, để sau này tự khởi nghiệp [dẫn theo,1]. Mô hình DHNPT ở Liên Xô cũ cũng có nét tương tự như ở Cộng hòa liên bang Đức. Ở đây các nhà khoa học sư phạm đã đề cập nhiều đến dạy nghề cho học sinh phổ thông; PP.Sararinxki áp dụng phương Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn pháp thực hành lao động nghề nghiệp cho học sinh tại các xưởng trường, tại liên trường trong khu vực với các thiết bị máy móc thu nhỏ nhưng vẫn đầy đủ tính năng sử dụng như các máy móc sản xuất ở nhà máy. Dạy nghề như trên đã liên hệ mật thiết với kiến thức trong kho tàng lý thuyết của học sinh, đồng thời hình thành những thao tác kỹ thuật, thao tác lao động nghề nghiệp, học sinh được liên hệ thực tiễn công việc thông qua việc làm quen với máy móc, tạo hứng thú cho học sinh.
Việc quản lý mô hình DHNPT được thực hiện trong phạm vi nhà trường, xong khi áp dụng phương pháp liên trường thì một phần của công tác quản lý đã chuyển sang dạng phối hợp, kết hợp với bộ máy quản lý khác. Hoạt động không khép kín như ở Cộng hòa liên bang Đức [dẫn theo, 2]. Các nước tư bản phát triển cao như ở Mỹ, cũng định hướng phân luồng cho học sinh sau khi tốt nghiệp THPT trong đó đào tạo nghề chiếm 24% vào những năm 1980 - 1990, 48% học sinh vào các trường dạy nghề và tham gia lao động sản xuất năm 1995. Còn ở Nhật, họ tìm cách đẩy mạnh việc hướng nghiệp - đào tạo dạy nghề cho lứa tuổi THCS lẫn THPT với nhiều phương thức linh hoạt nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội một cách hợp lý nhất trong đường lối chiến lược kỹ thuật lập quốc, nghĩa là dùng khoa học kỹ thuật để vươn tới, xây dựng đất nước Nhật Bản hùng mạnh về kỹ thuật.
Như ở Hàn Quốc, có phát triển đáng kể như ngày nay là nhờ mô hình đào tạo nghề dựa trên những chính sách đào tạo ở trường trung học phổ thông vừa học vừa làm, nghĩa là trường chuyên đào tạo học sinh trở thành những người có năng lực trong nhiều ngành nghề khác nhau như sửa chữa ô tô, máy móc thiết bị, nấu ăn, công nghệ truyền thống, kĩ thuật y tế. phương pháp đào tạo của họ là đưa chuyên gia ở các doanh nghiệp trực tiếp giảng dạy cho học sinh, điều hành chương trình giáo dục đúng nhu cầu doanh nghiệp, liên kết với các cơ quan hướng nghiệp và cơ quan đào tạo nghề, chia sẻ với nhau về nền tảng vật chất, nguồn nhân lực và vốn tri thức sẵn có. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm 2003, APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề ở Indonexia từ năm 1993 đã được nghiên cứu và phát triển mạnh. Trong đó, kết hợp đào tạo nghề giữa nhà trường với doanh nghiệp được quan tâm đặc biệt [6].
Năm 1999, ở Thái Lan Chính phủ đã nghiên cứu và xây dựng “Hệ thống hợp tác đào tạo nghề” để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng lao động, hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai [7]. Nhìn chung những công trình nghiên cứu về dạy học nghề, các mô hình dạy học nghề phổ thông ở nước ngoài đều chú ý việc cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ sở vật chất - kĩ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học lao động chuẩn bị nghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tức là đề cập tới giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu đó còn chưa chú ý tới cách tổ chức, quản lý dạy học nghề phổ thông. Ở Việt Nam Ở Việt Nam đã có nhiều tác giả nghiên cứu đề cập đến vấn đề dạy học nghề phổ thông, chúng ta phải kể đến tác giả Nguyễn Văn Hộ đề cập đến vấn đề “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho học sinh Việt Nam” [8].
Trong đó tác giả xây dựng luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đề xuất hình thức phối hợp giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất hướng nghiệp - dạy nghề, các lực lượng khác tham gia vào công tác GDHN và DHNPT cho học sinh phổ thông. Tác giả Phạm Tất Dong cũng đã đề cập đến vấn đề “Đổi mới công tác hướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường. Quán triệt chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo, đẩy mạnh việc củng cố phát triển các trung tâm Kinh tế tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề” [4], đã nghiên cứu khuynh hướng nghề nghiệp của học sinh phổ thông và các chương trình hướng nghiệp, dạy nghề chính khóa cho các trường đã ra đời. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Trong luận án tiến sĩ Giáo dục học “Kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [7], tác giả Trần Khắc Hoàn đã đề xuất phương thức tổng quát và xây dựng các giải pháp quản lý cụ thể thực hiện kết hợp đào tạo tại trường và doanh nghiệp sản xuất nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, các giải pháp chỉ dừng lại ở mức khái quát do đó cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước ở phạm vi vùng miền rộng hơn, qui mô lớn hơn, bậc và ngành nghề đào tạo đa dạng hơn. Nghiên cứu về “Những giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [15] của tác giả Phan Chính Thức đã đi sâu nghiên cứu đề xuất những khái niệm, cơ sở lý luận mới của đào tạo nghề, về lịch sử đào tạo nghề và giải pháp phát triển đào tạo nghề góp phần đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Các tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến đã có nghiên cứu về “Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” [3]. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật ở Việt Nam.