phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về năng lực cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai Chƣơng 3: Quan điểm, mục tiêu và giải pháp nâng cao năng lực cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 8 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CÁN BỘ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ 1. Cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã 1. Khái niệm - Khái niệm cán bộ: Theo quan niệm thông thƣờng thì cán bộ đƣợc hiểu là những ngƣời thoát ly sản xuất nông nghiệp, ngƣ nghiệp,…để làm việc trong bộ máy chính quyền, Đảng, đoàn thể, những ngƣời là sĩ quan trong lực lƣợng quân đội nhân dân và công an nhân dân, những ngƣời giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế. Theo từ điển Tiếng Việt thì: “Cán bộ là thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính) và thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [29,tr.
Thuật ngữ Cán bộ còn chỉ chung cho những ngƣời mang trọng trách, công vụ và có những quyền hạn nhất định. Trong quân sự, cán bộ đƣợc dùng nhƣ từ đồng nghĩa với sĩ quan. Thuật ngữ cán bộ cũng thƣờng đƣợc những tù nhân trong trại giam gọi những ngƣời quản lý trại giam, cai tù, cai ngục ở Việt Nam. Cán bộ cũng là danh xƣng thƣờng đƣợc những ngƣời dân chỉ về những ngƣời có quyền hành (cán bộ lãnh đạo, cán bộ cao cấp, cán bộ quản lý, cán bộ nguồn.), hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho ngƣời dân (cán bộ thuộc dịch vụ công cộng).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đƣa ra khái niệm về cán bộ: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng” [13,tr. Nhƣ vậy, có nhiều quan niệm về cán bộ, nhƣng tựu chung lại, có hai cách hiểu cơ bản: 9 Luan van Một là, cán bộ bao gồm những ngƣời trong biên chế nhà nƣớc, làm việc trong các cơ quan Đảng, Nhà nƣớc, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nƣớc và các lực lƣợng vũ trang nhân dân từ Trung ƣơng đến địa phƣơng và cơ sở. Hai là, cán bộ là những ngƣời giữ chức vụ trong một cơ quan hay tổ chức để phân biệt với ngƣời không có chức vụ.
Theo Khoản 1 Điều 4 của Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội [20]: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. - Khái niệm cán bộ UBND cấp xã: Theo Khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội: “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội” [20]. Cụ thể hoá quy định này, tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ về chức danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng, thị trấn và những ngƣời họat động không chuyên trách ở cấp xã cán bộ cấp xã gồm [5]: + Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; + Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; + Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; + Bí thƣ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; + Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; + Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phƣờng, thị trấn có 10 Luan van hoạt động nông, lâm, ngƣ, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); - Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Nhƣ vậy, cán bộ UBND cấp xã là một bộ phận của cán bộ cấp xã.
Đây là những ngƣời mang đầy đủ đặc điểm của cán bộ cấp xã nhƣng gắn liền với hoạt động của UBND cấp xã. Theo Điều 34 của Luật Tổ chức chính quyền địa phƣơng số 77/2015/QH13 ngày 19/6/2015 của Quốc hội [22]: "Ủy ban nhân dân xã gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên phụ trách quân sự, Ủy viên phụ trách công an. Ủy ban nhân dân xã loại I không có quá hai Phó Chủ tịch, xã loại II và loại III có một Phó chủ tịch." Kế thừa khái niệm cán bộ UBND cấp xã ở trên có thể hiểu: “Cán bộ UBND cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực UBND, là cán bộ chuyên trách chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của UBND đối với các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng đã được phân công trên địa bàn xã, phường, thị trấn”. Nhƣ vậy, cán bộ UBND cấp xã bao gồm Chủ tịch UBND và Phó chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thực hiện chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp xã theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phƣơng.
Đặc điểm cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã Cán bộ UBND cấp xã mang đầy đủ những đặc điểm của cán bộ nói chung đó là: - Là công dân Việt Nam; - Đƣợc bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kì trong cơ quan Nhà nƣớc; - Trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc và các chế độ có liên quan theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do vị trí, vai trò của cấp cơ sở, nên đội ngũ cán bộ UBND cấp xã có những đặc điểm mang tính đặc thù sau: Thứ nhất, đội ngũ cán bộ UBND cấp xã là những ngƣời trực tiếp làm việc với ngƣời dân trên địa bàn xã/phƣờng/thị trấn. Mọi đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, 11 Luan van chính sách và phát luật của Nhà nƣớc đều do đội ngũ này phổ biến, triển khai để nhân dân hiểu rõ và thi hành, đồng thời, cũng trực tiếp thu nhận, lắng nghe, tiếp thu các ý kiến, những đề xuất, kiến nghị của nhân dân. Do vậy, cán bộ UBND cấp xã là ngƣời phản ánh một cách trung thực nhất những nguyện vọng, nhu cầu của ngƣời dân lên các cơ quan cấp trên và đề xuất những giải pháp trong việc giải quyết những vƣớng mắc, thỏa mãn những nhu cầu của nhân dân và của mỗi ngƣời dân nói riêng.
Thứ hai, đội ngũ cán bộ UBND cấp xã đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo những điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ. Họ đƣợc đảm bảo các quyền lợi vật chất và tinh thần nhƣ: hƣởng lƣơng, phụ cấp từ ngân sách nhà nƣớc, đƣợc khen thƣởng khi có thành tích, công lao xứng đáng, đƣợc nhận lƣơng hƣu khi đủ tuổi, đủ thời gian cống hiến cho nền công vụ. Thứ ba, cán bộ UBND cấp xã hầu hết là ngƣời địa phƣơng, sinh sống tại địa phƣơng, gắn bó mật thiết với nhân dân. Họ là những ngƣời cƣ trú, sinh sống, gắn bó chặt chẽ với nhân dân địa phƣơng, có mối quan hệ trực tiếp với ngƣời dân, gia đình.
Là ngƣời sâu sát với dân, cùng chung sống hàng ngày với dân, am hiểu phong tục, tập quán, truyền thống của địa phƣơng hơn cả. Do đó, cán bộ UBND cấp cơ sở luôn chịu tác động của các mối quan hệ đan xen, phức tạp vừa là ngƣời đại diện cho quyền lực Nhà nƣớc tại địa phƣơng, vừa là ngƣời dân cùng phố. Những mối quan hệ đó vừa thống nhất những cũng vừa mâu thuẫn và có ảnh hƣởng không nhỏ đến việc thực thi công việc. Thứ tƣ, hoạt động công vụ của cán bộ UBND cấp xã là hoạt động đa dạng và phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện thƣờng xuyên và chuyên nghiệp.
Xã/phƣờng/thị trấn là nơi giải quyết trực tiếp các vấn đề của ngƣời dân, các vấn đề phải giải quyết thƣờng rất đa dạng và phức tạp. Là ngƣời đại diện cho Nhà nƣớc ở cấp xã, họ giải quyết các công việc sao cho không trái phá luật nhƣng có hiệu quả cao nhất. Cán bộ xã trong công việc, đòi hỏi phải thực sự vì dân, thƣơng dân, lấy dân làm gốc, không thể vì cái toàn cục mà quên đi hoàn cảnh điều kiện của mỗi ngƣời dân, nhƣng cũng không vì mỗi ngƣời dân cụ thể mà làm trái pháp luật, trái đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc. Vì vậy, cán bộ UBND cấp xã là những ngƣời có kiến thức chuyên môn sâu, am hiểu thực tế, có kinh nghiệm giải quyết những tình huống khác nhau.
Vị trí, vai trò của cán bộ Ủy ban nhân dân cấp xã Đội ngũ cán bộ UBND cấp xã có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính cơ sở nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng đƣợc quyết định bởi phần lớn năng lực của đội ngũ cán bộ UBND cấp xã. Cán bộ nói chung và cán bộ UBND cấp xã nói riêng có vai trò rất quan trọng. Cơ sở mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào năng lực cán bộ UBND cấp xã.
Họ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Họ là những cán bộ trực tiếp tuyên truyền. phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc trên địa bàn dân cƣ, giải quyết mọi nhu cầu của dân cƣ, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phƣơng, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã.