Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1.
Cơ sở lý luận về chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm cán bộ Khái niệm 1: "Cán bộ: - Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước – cán bộ nhà nước, cán bộ khoa học. - Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người thường, không có chức vụ".(Phạm Lê Liên,2016) Khái niệm 2: "Cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam trong biên chế bao gồm: -Những người do bẩu cử để đảm nhiêm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; -Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; - Thẩm phán Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; - Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ 5 quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp; - Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo theo nhiệm kỳ trong thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Bí thư, Phó bí thư Đảng ủy; Người đứng đầu tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội xã, phường, thị trấn; - Những người được tuyển dụng, giao giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã". (Quốc hội,2003) Khái niệm 3: "Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, huyện, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước."(Quốc hội, 2008) “Cán bộ: Người phụ trách một công tác của chính quyền hay đoàn thể” (Nguyễn Lân, 2007) Khái niệm 4 "cán bộ cấp xã bao gồm các chức vụ sau: a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy; b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; 6 g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam." (Chính phủ, 2009) Theo tác giả, khái niệm về cán bộ hiểu như sau: Một là, cán bộ là những người thuộc biên chế nhà nước, làm việc tại cơ quan Đảng, đơn vị quản lý, hành chính, đoàn thể chính trị xã hội, các doanh nghiệp nhà nước. từ Trung ương đến địa phương và cơ sở. Hai là, cán bộ là những người có chức vụ trong một đơn vị để phân biệt với người không có chức vụ. Khái niệm công chức Khái niệm 1 "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật." (Quốc hội, 2008) Khái niệm 2: "công chức cấp xã bao gồm các chức danh sau: a) Trưởng Công an; b) Chỉ huy trưởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê; d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán; e) Tư pháp - hộ tịch; g) Văn hoá - xã hội "(Chính phủ, 2009) 7 Khái niệm 3 "Quy định về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã được quy định như sau: Đối với cấp xã loại 1: không quá 23 người.
Đối với cấp xã loại 2: không quá 21 người Đối với cấp xã loại 3: không quá 19 người"(Chính phủ, 2019) Theo tác giả: Công chức là người do bầu cử, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm đội ngũ cán bộ, công chức Có nhiều quan niệm và nhiều cách hiểu khác nhau về đội ngũ. Trong các tổ chức chính trị -xã hội, khái niệm “đội ngũ” được sử dụng một cách rộng rãi như: “Đội ngũ giáo viên”; “Đội ngũ y bác sĩ”; “Đội ngũ công nhân lành nghề”;…Tất cả những khái niệm này đều xuất phát từ cách sử dụng từ ngữ trong quân sự về “đội ngũ” nhằm chỉ khối đông người được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng chặt chẽ.
Mặc dù có nhiều cách diễn tả nhưng đều có được hiểu theo một khái niệm thống nhất, đó là: Đội ngũ là một nhóm (tập hợp) người được tổ chức và tập hợp lại thành một đội, một lực lượng, có cùng mục đích và chí hướng. Theo tác giả: Đội ngũ là một nhóm người được tập hợp lại dưới sự dẫn dắt và điều hành của một người, hay nhóm người đứng đầu, có cùng lý tưởng, có cùng mục đích, gắn bó và đoàn kết với nhau cả về quyền lợi vật chất cũng như tinh thần. Như vậy, đội ngũ cán bộ, công chức có thể hiểu là tập hợp lực lượng cán bộ, công chức trong một tổ chức nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ mà tổ chức giao phó. Đội ngũ CB, CC là tập hợp lực lượng CB, CC được bầu cử, được tuyển dụng, bổ nhiệm hay được phân công làm công tác chuyên môn, nghiệp vụ trong cơ quan nhà nước, trong các tổ chức chính trị - xã hội, trong cơ quan của Đảng,… 8 1.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức xã Chất lượng của đội ngũ CBCCX được thể hiện thông qua hoạt động của bộ máy chính quyền cấp xã, thị trấn đánh giá dưới góc độ phẩm chất đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao cũng như hiệu quả công tác của họ. Chất lượng của đội ngũ CBCCX còn được đánh giá dưới góc độ khả năng thích ứng, xử lý các tình huống phát sinh của người cán bộ, công chức đối với công vụ được giao. Tiêu chuẩn cán bộ, công chức cấp xã 1. Tiêu chuẩn chung Cán bộ lãnh đạo cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn sau đây: "- Có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành, kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, hành vi sai trái, lệch lạc, các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa về tư tưởng, phẩm chất, đạo đức lối sống; bảo vệ các quan điểm, đường lối của Đảng; quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, sự nghiệp đổi mới của Đảng. -Nắm vững đường lối, chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; nguyên tắc tổ chức, quy chế làm việc và mối quan hệ trong công tác của hệ thống chính trị. Có ý thức tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao, chấp hành sự điều động, phân công của tổ chức.
-Gương mẫu trong thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, đấu tranh tự phê bình và phê bình; thể hiện rõ tinh thần tận tụy, trách nhiệm cao, nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm; đoàn kết nội bộ, quy tụ cán bộ, phát huy và sử dụng có hiệu quả sức mạnh của tập thể. -Luôn có ý thức trong việc học tập, làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; cầu thị, cầu tiến bộ; gương mẫu và thường xuyên học tập, nghiên cứu nâng cao kiến thức, năng lực công tác.