CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐỘNG LỰC VÀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO CÔNG CHỨC 1. Động lực và tạo động lực làm việc 1. Các khái niệm cơ bản 1. Động lực Trong giai đoan hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức.
Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong các tổ chức, đơn vị, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc, nâng cao năng suất lao động. Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực nhưng đều nói lên bản chất của động lực đó là những gì kích thích nhằm hướng con người hành động để đạt được mục tiêu đề ra. Xoay quanh vấn đề tạo động lực làm việc có nhiều quan niệm khác nhau nhưng chúng đều có những điểm chung cơ bản. Động lực lao động: Là sự khao khát và tự nguyện nhằm tăng cường mọi sự nỗ lực của con người để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức.
Động lực: Là nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong những điều kiện có thuận lợi và tạo ra kết quả cao. Động lực: Là sự thôi thúc từ bên trong mỗi con người lao động, thúc đẩy con người hoạt động. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của ThS.Nguyễn Vân Điềm - PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”. [5] Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Biểu hiện của động lực là 6 sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”. [14] Hoạt động của con người là hoạt động có mục đích. Vì vậy các nhà quản lý luôn tìm cách để trả lời câu hỏi tại sao người lao động cần phải lao động, phải làm việc. Để trả lời được cho các câu hỏi đó các nhà quản trị đã phải đi tìm hiểu về động lực của người lao động và cũng như tìm hiểu về cách tạo ra động lực cho người lao động trong quá trình làm việc.
Dưới góc độ của nhà quản trị thì động lực là những cái thúc đẩy con người nỗ lực hoạt động, làm việc để đạt được các mục tiêu nhất định. Biểu hiện của động lực là sự hăng say, nỗ lực của mỗi cá nhân trong quá trình thực hiện công việc. Trên cơ sở kế thừa, phát triển các quan niệm đã có, chúng ta có thể hiểu động lực một cách chung nhất như sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, động viên, khuyến khích con người nỗ lực cao nhất để thực hiện hành vi theo mục tiêu. Động lực của con người là sự tác động tổng hợp của các yếu tố (vật chất và tinh thần) có tác dụng thúc đẩy, kích thích sự hăng say, nỗ lực hoạt động, làm việc của mỗi cá nhân nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra.
Tạo động lực Tạo động lực được hiểu là việc sử dụng tất cả các biện pháp nhằm tạo ra động cơ cho mỗi cá nhân, tổ chức để đạt được mục tiêu mình đặt ra. Nhưng để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của mỗi cá nhân, tạo cho mỗi ngưới có sự hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc thì các nhà quản lý cần phải nắm bắt được mục đích hướng tới của các cá nhân trong tổ chức là gì. Để nắm bắt và kiểm soát được mọi hành động của người lao động nhà quản lý có thể được thực hiện thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Tạo động lực là tất cả những hoạt động, các biện pháp mà mỗi tổ chức, đơn vị có thể thực hiện được đối với người lao động, nó có tác động mạnh mẽ đến khả năng làm việc, tinh thần, thái độ làm việc của người lao động nhằm đem lại hiệu quả cao trong công việc.
7 Tạo động lực gắn liền với lợi ích của người lao động. Động lực được tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào điều đó phụ thuộc vào cơ chế để sử dụng nó như là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội. Muốn lợi ích tạo ra thì động lực phải tác động vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng, nhiệm vụ cụ thể. Tạo động lực cho người lao động để nhằm tăng năng suất lao động, tăng tính cạnh tranh, đánh thức năng lực, sự nỗ lực làm việc của nhân viên, làm cho nhân viên nhiệt tình hăng say cống hiến hết sức mình cho tổ chức.
Họ được thỏa mãn, được tôn trọng trong công việc, giúp họ thực hiện được những khát vọng chính đáng của con người. Khi người lao động đạt được các mục tiêu đặt ra và có động lực để làm việc thì sẽ tránh được sự nhàm chán và bất mãn của nhân viên đối với tổ chức. Khái niệm tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là một trong những vấn đề thuộc lĩnh vực của các nhà quản lý của mỗi tổ chức, đơn vị. Các nhà quản lý trong tổ chức muốn đơn vị mình phát triển vững mạnh thì phải sử dụng các biện pháp nhằm kích thích người lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc.
Công việc này là vấn đề về tạo động lực cho người lao động trong các tổ chức, đơn vị. Vậy tạo động lực làm việc cho người lao động là tất cả các biện pháp, chính sách mà nhà quản trị áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động cơ, mục tiêu cho người lao động, như: các nhà quản trị thiết lập nên những mục tiêu thiết thực vừa phù hợp với mục tiêu của người lao động vừa thoả mãn được mục đích của tổ chức, sử dụng các công cụ, biện pháp kích thích cả về vật chất lẫn tinh thần. Qua đây ta thấy vấn đề quan trọng của động lực chính là đạt được mục tiêu, mục đích và nhu cầu của người lao động. Để đề ra được những mục tiêu phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao 8 động hăng say, nỗ lực, phấn đấu hết mình trong quá trình làm việc thì các nhà quản lý phải nắm bắt được mục đích hướng tới của người lao động.
Các nhà quản lý có thể dự đoán và kiểm soát hành động của người lao động thông qua việc nhận biết động cơ và nhu cầu của họ. Muốn người lao động trong đơn vị của mình nỗ lực hết sức vì tổ chức thì các nhà quản trị phải sử dụng tất cả các biện pháp, chính sách nhằm khuyến khích, động viên đối với người lao động, đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Sử dụng các chính sách bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức. Các nhà quản trị đã từng nói “Sự thành bại của tổ chức thường phụ thuộc vào việc sử dụng hợp lý nhân viên trong đơn vị như thế nào” Vấn đề về tạo động lực làm việc, hiện nay trên Thế giới nói chung, hay ở Việt Nam nối riêng đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau về tạo động lực làm việc nhưng cơ bản đều có những điểm chung.
Theo tác giả Lương Văn Úc (2011), Giáo trình tâm lý học lao động, NXB Kinh tế quốc dân thì: “Tạo động lực làm việc được hiểu là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức” ; “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức. [15] Theo giáo trình hành vi tổ chức của PGS.TS Bùi Anh Tuấn, NXB Kinh tế quốc dân 2004 “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm cho người lao động có động lực làm việc”. [14] 9 Từ các phân tích và nghiên cứu trên, trong luận văn này tác giả sử dụng khái niệm tạo động lực như sau: "tạo động lực là tổng thể các biện pháp, chính sách, cách thức của chủ thể quản lý tác động vào người lao động nhằm động viên, khuyến khích khả năng làm việc với tinh thần, trách nhiệm làm việc để hoàn thành công việc đạt hiệu quả cao nhất”. Mục đích và vai trò của việc tạo động lực làm việc 1.
Mục đích của tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc giúp cho tổ chức sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả nhất và đạt được mục tiêu đề ra. Nhằm khuyến khích, thúc đẩy người lao động làm việc hăng say, sáng tạo, hiệu quả trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Giúp tổ chức sàng lọc, đánh giá được năng lực cũng như khả năng hoàn thành công việc để từ đó giữ lại được những nhân viên giỏi đang làm việc và thu hút thêm nhân tài đến với tổ chức. Vai trò của việc tạo động lực làm việc Qua nghiên cứu một số học thuyết, quan điểm quản trị của các nhà khoa học, các nhà quản lý ta thấy được động lực làm việc có vai trò quan trọng trong việc quyết định hành vi của người lao động.
Nó khuyến khích người lao động sẽ có những hành vi tích cực trong việc hoàn thiện mình để thực hiện tốt các công việc được giao. Động lực làm việc giúp con người ta phát huy được hết khả năng sáng tạo, tính tích cực trong lao động và ngược lại. Động lực làm việc không những giúp cho người lao động hoàn thành tốt công việc của mình mà nó còn là yếu tố quyết định trong quá trình tự hoàn thiện bản thân của con người trong lao động.