Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÔNG CHỨC 1. Công chức Mặc dù chế độ công vụ đã tồn tại và phát triển đã trên 3 thế kỷ tính từ thời điểm xuất hiện thuật ngữ công chức vào năm 1859 ở Anh nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về công chức cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Sự khác nhau trong quan niệm về công chức thể hiện trên các phương diện như: phạm vi công chức, đặc điểm công chức và chế độ công vụ. Tại Pháp, công chức bao gồm tất cả những thành viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia làm dịch vụ công.
Tại Anh, công chức là những người thay mặt nhà nước giải quyết công việc công, nhất là tại Trung ương, cho nên phạm vi công chức thu hẹp hơn nhiều. Ở nước ta, khái niệm “công chức” bắt đầu xuất hiện lần đầu tiên khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 ban hành Quy chế công chức. Tại Điều I, Mục 1, Chương thứ nhất của Sắc lệnh quy định “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định”. [36] Như vậy, với Sắc lệnh 76/SL khái niệm “công chức” được quan niệm trong một phạm vi hạn hẹp, chưa có tính bao quát toàn diện, chỉ là những người “giữ chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ”.
Sau một thời gian dài (từ đầu thập kỷ 60 đến cuối thập kỷ 80 của thế kỷ 20), ở nước ta gần như không tồn tại khái niệm công chức. Do hoàn cảnh kháng chiến sau đó, nên tuy không có văn bản nào bãi bỏ Sắc lệnh 76/SL 9 Luận văn thạc sỹ Quản lý công nhưng trên thực tế các nội dung của quy chế đó không được áp dụng. Sau ngày giải phóng miền Nam 30-4-1975, thống nhất đất nước, chúng ta thực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nước, lấy người cán bộ làm trung tâm. Theo đó, tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, nông trường, lâm trường và lực lượng vũ trang đều được gọi chung trong một cụm từ là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước”.
Hầu như mọi người khi kê khai lý lịch, nếu đang làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước. đều ghi ở mục thành phần bản thân là “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước.” [36] Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử quan trọng của đất nước, Sắc lệnh 76/SL đã có những điểm không còn phù hợp và cần bổ sung. Do đó, ngày 25 tháng 5 năm 1991 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT quy định về công chức Nhà nước thì khái niệm công chức mới được đề cập lại và phạm vi rộng hơn. Tại Điều 1 của Nghị định này quy định: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước.” [26] Tuy nhiên, qua quá trình triển khai và thực hiện, Nghị định 169/HĐBT lại phát sinh nhiều vấn đề chưa phù hợp, do đó, cần một văn bản có tính toàn diện hơn và vị trí pháp lý cao hơn.
Ngày 26 tháng 02 năm 1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh cán bộ, công chức gồm 7 chương và 48 điều. Sau đó, Pháp lệnh đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi bổ sung lần thứ nhất vào ngày 28 tháng 4 năm 2000 và lần hai vào ngày 29 tháng 4 năm 2003. Như vậy, CBCC theo Pháp lệnh này là sự điều chỉnh chung đối với cả CBCC làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, 10 Luận văn thạc sỹ Quản lý công công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước, công chức cấp xã, phường, thị trấn và viên chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước. Quy định này khẳng định quan điểm và nhận thức mới về đội ngũ CBCC trong giai đoạn hiện nay nhưng vẫn chưa có sự phân biệt rõ ràng giữa cán bộ với công chức.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý cũng như nhằm phân biệt rõ ràng thuật ngữ “cán bộ”, “công chức”, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật Cán bộ công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008. Khoản 2, điều 4 của Luật này quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau đây gọi là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.[31] Và cụ thể hơn nữa khái niệm công chức thì theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ban hành ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định những người là công chức, theo Điều 2 của Nghị định này, căn cứ để xác định công chức là: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật…”. [9] Phân loại công chức [31] Theo quy định tại Điều 34, Mục I, Chương IV của Luật cán bộ, công chức năm 2008, công chức được phân loại dựa trên các tiêu chí sau: 11 Luận văn thạc sỹ Quản lý công Căn cứ vào ngạch được bổ nhiệm, công chức được phân thành loại A, loại B, loại C và loại D, cụ thể: Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương; Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương; Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương; Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên. Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại như sau: Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Đánh giá công chức Đánh giá công chức là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý CBCC nói chung và quản lý công chức nói riêng. Nói đến đánh giá công chức, tức là đánh giá con người. Nhưng con người không đơn giản như các sự vật hiện tượng khác, đó là những thực thể sống sinh động, có lao động, sinh hoạt, trí thông minh, tình cảm, cảm xúc,… Do vậy, việc đánh giá trở nên khó khăn, phức tạp, đòi hỏi cái nhìn toàn diện, khách quan. Trong cơ quan hành chính nhà nước lại càng không đơn giản, bởi những con người ấy được gọi là công chức và việc đánh giá họ gắn liền với hoạt động thực thi công vụ của chính họ.
Quá trình đánh giá phải đảm bảo các yêu cầu, nguyên tắc, nội dung, quy trình đánh giá được quy định trong các văn bản hiện hành. Vì thế, đánh giá công chức hành chính nhà nước khác với việc ta đánh giá một con người bình thường trong xã hội, là việc của cả tập 12 Luận văn thạc sỹ Quản lý công thể, của người đứng đầu cơ quan và bản thân công chức đó tự đánh giá về mình. Đánh giá công chức có thể hiểu là việc so sánh những hoạt động thực tế của công chức với các tiêu chí đã được xây dựng để rút ra được nhận xét, kết luận về khả năng hoàn thành công việc của một công chức, là “làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức.”[31] Như vậy, trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, đánh giá có vai trò rất quan trọng, việc tổ chức đánh giá và đánh giá đúng là điều hết sức cần thiết, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng làm việc của công chức, lòng tin của nhân dân và do đó gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cả bộ máy.
Nội dung công tác đánh giá công chức Nội dung của công tác đánh giá công chức được quy định cụ thể trong Quyết định số 286-QĐ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 08 tháng 02 năm 2010 về việc ban hành Quy chế đánh giá cán bộ, công chức; Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 do Quốc hội ban hành ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010; Nghị định số 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 3 năm 2010 về quy định tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Nghị định số 56/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09 tháng 6 năm 2015 về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức và Nghị định số 88/2017/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 27 tháng 7 năm 2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 09 tháng 6 năm 2015 về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức. 13 Luận văn thạc sỹ Quản lý công 1. Mục đích đánh giá Đánh giá công chức là vấn đề có vai trò hết sức quan trọng, là cơ sở để sắp xếp, bố trí, đề bạt công chức. Đảng và nhà nước ta cũng luôn thể hiện sự quan tâm của mình tới nội dung này.
Tại Điều 55, Mục 6, Chương 4, Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 đã nêu rõ mục đích của công tác đánh giá công chức là: “Đánh giá công chức là để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.