Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Cơ sở lý luận chung về thủ tục hành chính 1. Khái niệm về thủ tục hành chính Theo cuốn Đại từ điển tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức. Cuốn từ điển chính tả Tiếng việt, NXB Từ điển Bách khoa thủ tục là thứ tự và cách thức làm việc theo một lề lối đã được quy định [34, tr.
Từ điển Hán Việt, NXB Khoa học xã hội của Giáo sư Đào Duy Anh quan niệm rằng thủ tục là các trình tự và phương pháp làm việc [35, tr. Với những quan niệm trên cho thấy thủ tục là hoạt động được thực hiện theo trình tự trước sau và cách thức từng bước với những quy định chặt chẽ, thống nhất; hay nói cách khác trình tự được xem là yếu tố quan trọng, không thể thiếu của thủ tục nói chung và TTHC nói riêng. Theo quy định của pháp luật và thực tiễn quản lý nhà nước ở nước ta, hoạt động chấp hành và điều hành (gọi là hoạt động hành pháp) của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện phải tuân thủ theo pháp luật, theo quy định trình tự về thời gian và cách sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết những công việc được giao nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra. Đó là những thủ tục quản lý hành chính nhà nước, được gọi là TTHC.
Cuốn Đại từ điển tiếng việt của NXB Văn hóa thông tin năm 1998, TTHC là cách thức tiến hành một công việc với nội dung và trình tự nhất định theo quy định của cơ quan nhà nước. Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam của Đại học Luật Hà Nội quan niệm: “thủ tục hành chính là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước được quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính, bao gồm trình tự, nội dung, mục 9 Luận văn thạc sỹ Quản lý công đích, cách thức tiến hành các hoạt động cụ thể trong quá trình giải quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nước” [10, tr. Tại Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC quy định “TTHC là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức”. Quy định nêu trên có tính khái quát cao về TTHC.
Từ định nghĩa có tính khái quát đó, Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP quy định một TTHC phải có 08 bộ phận tạo thành bắt buộc, gồm: Tên thủ tục; hồ sơ của thủ tục; trình tự thực hiện; cách thức thực hiện; thời hạn giải quyết; đối tượng thực hiện; cơ quan có thẩm quyền giải quyết; kết quả của thủ tục và 03 bộ phận tạo thành không bắt buộc gồm: yêu cầu, điều kiện; mẫu đơn, tờ khai; phí, lệ phí. Từ các khái niệm trên, có thể nhận thấy rằng TTHC là trình tự và cách thức do văn bản QPPL quy định để các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền hành chính thực hiện những hoạt động cụ thể trong quá trình quản lý hành chính nhà nước, cung cấp dịch vụ công và thực hiện các giao dịch hành chính trong mối quan hệ nội bộ hành chính và mối quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân nhằm đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh trong xã hội khi thực thi pháp luật.