Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN CÔNG TRONG CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. TÀI SẢN CÔNG TẠI CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VÀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập 1. Cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nước (CQNN) là hệ thống các cơ quan thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp được tổ chức từ trung ương dến địa phương.
Hệ thống Cơ quan nhà nước bao gồm: - Cơ quan lập pháp: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội, đối ngoại; nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh; những nguyên tắc chủ yếu về t chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Các cơ quan của Quốc hội gồm: Ủy ban thường vụ quốc hội; Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
Hội đồng nhân dân được quy định là cơ quan quyền lực địa phương không có quyền lập pháp. - Cơ quan tư pháp: là các cơ quan có quyền phán xét tính hợp hiến, hợp pháp của các quyết định pháp luật và sự phán quyết về hành vi phạm tội, tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, hành chính. Hệ thống cơ quan tư pháp gồm các cơ quan thuộc Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân. 16 - Cơ quan hành pháp: đó là các cơ quan thực hiện quyền hành pháp của nhà nước, quản lý chung hay từng mặt công tác, có nhiệm vụ chấp hành pháp luật và chỉ đạo thực hiện chủ trương, kế hoạch của nhà nước.
Hệ thống các cơ quan hành pháp bao gồm: các cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở trung ương như Chính phủ, Bộ, ngành.; cơ quan thực hiện quyền hành pháp ở địa phương là UBND các cấp và các CQHC giúp việc có chức năng quản lý nhà nước ở địa phương nhằm bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác từ trung ương đến cơ sở ( như cơ quan tài chính, giáo dục, y tế, tài nguyên - môi trường, xây dựng. Các cơ quan chuyên môn chịu sự chỉ đạo và quản lý của UBND đồng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên. Đơn vị sự nghiệp công lập - Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSN) là đơn vị do Nhà nước thành lập để hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. - Lĩnh vực hoạt động của các ĐVSN bao gồm: giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, nông lâm ngư nghiệp, thuỷ lợi ….
Th o quy định về cơ chế tài chính của đơn vị sự nghiệp công lập quy định tại Nghị định 16/2016/NĐ-CP thì đơn vị sự nghiệp công lập có 4 loại : (i) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư;(ii) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên; (iii) Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; và vi) Đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên. 17 Th o quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại Nghị định số 04/2016/NĐ-CP ĐVSN công lập gồm 2 loại: ĐVSN công lập tự chủ tài chính và ĐVSN công lập chưa chủ tài chính. Như vậy, cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập được nghiên cứu trong quản lý tài sản công là các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập do Nhà nước trang bị tài sản để hoạt động. Tài sản và quan hệ về tài sản Với một xã hội phát triển, tài sản ngày càng phong phú về chủng loại, giàu có về số lượng và giá trị, đa dạng về hình thức sở hữu: Tài sản của cá nhân, tài sản của hộ gia đình, tài sản của cộng đồng, tài sản của dòng họ, tài sản của tập thể (t chức), tài sản của quốc gia (tài sản quốc dân).
Vậy, tài sản là gì? Có rất nhiều cách quan niệm về tài sản: - Có quan niệm cho rằng, tài sản là tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt có giá trị kinh tế mà chủ thể quyền lợi dân sự có thể chi phối; bao gồm mọi tư liệu vật chất tồn tại trong thiên nhiên và con người lao động sản xuất ra, bao gồm cả tiền tệ và chứng khoán có giá. - Trung Quốc quan niệm tài sản là t ng hoà của tiền bạc, của cải và quyền lợi, nghĩa vụ dân sự. - “Tài sản: thuật ngữ kế toán kinh doanh chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của Nhà nước; có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hoá hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên” [9,4].
18 Theo quan niệm của Trung Quốc quan hệ tài sản là quan hệ xã hội có nội dung kinh tế; bao gồm quan hệ sở hữu tài sản, quan hệ lưu chuyển tài sản, quan hệ thừa kế tài sản phát sinh trong quá trình sản xuất, trao đ i, phân phối, tiêu dùng sau khi được pháp luật xác nhận hình thành quyền sở hữu, quyền thừa kế tài sản. Quan hệ tài sản là một trong những đối tượng điều chỉnh của Luật Dân sự. - Ở Việt Nam: Quan hệ tài sản là quan hệ xã hội có nội dung kinh tế; đó là mối quan hệ về quyền sở hữu tài sản; bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu th o quy định của pháp luật. Tại Mục 1 và Mục 2, Chương XIV Bộ Luật Dân sự của Việt Nam về xác lập, chấm dứt quyền sở hữu đã quy định cụ thể việc xác lập quyền sở hữu, chấm dứt quyền sở hữu, các nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu, thừa kế quyền sở hữu, đăng ký tài sản, bảo vệ quyền sở hữu, quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản.
Theo những khái niệm trên đây, tài sản có hai mặt; mặt thứ nhất của tài sản là vật có thực, tiền và giấy tờ trị giá được bằng tiền; đó chính là thực thể của tài sản và có thể tính được thành tiền, cái mà có thể vận động được trong nền kinh tế; mặt thứ hai của tài sản là quyền lợi và nghĩa vụ dân sự, là địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ tài sản, quan hệ thân nhân trong giao lưu dân sự, chuẩn mực pháp lý trong cách ứng xử của chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự. Thực chất mặt thứ hai của tài sản là quan hệ tài sản; quyền lợi và nghĩa vụ dân sự; địa vị pháp lý của cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác trong quan hệ tài sản. Khái niệm và nguồn hình thành tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập 1. Khái niệm tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập Khái niệm tài sản công, tài sản thuộc sở hữu toàn dân là các khái niệm phức tạp, đây là những vấn đề cơ bản nhất được quy định tại Hiến pháp và các đạo luật chính ở mỗi nước.
Ở mỗi nước nội hàm của tài sản công, tài sản công… là khác nhau được quyết định bởi quan hệ xã hội, quan hệ sở hữu và quan điểm quản lý ở mỗi nước. Tuy nhiên, đây là vấn đề phức tạp, có nhiều ý kiến khác nhau ở các nước, đặc biệt là ở các nước xã hội chủ nghĩa, có hình thức sở hữu toàn dân. Tại các nước Xã hội chủ nghĩa, Nhà nước đại diện quyền lợi cho toàn dân nên là người đại diện sở hữu đối với toàn bộ những tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Do đó có nhiều quan điểm hiểu đồng nhất khái niệm giữa TSC và tài sản nhà nước.
Th o Điều 53 Hiến pháp năm 2013 : “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. - Th o Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005: Tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước bao gồm đất đai rừng tự nhiên, rừng trồng có nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, núi sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi tự nhiên vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh 20 vực kinh tế, văn hoá xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác do pháp luật quy định. - Theo Điều 3 Luật thực hành, tiết kiệm chống lãng phí : Tài sản nhà nước là tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, thuộc sở hữu, quản lý của Nhà nước, bao gồm nhà, công trình công cộng, công trình kiến trúc và tài sản khác thuộc sở hữu nhà nước; tài sản từ nguồn viện trợ, tài trợ, đóng góp của t chức, cá nhân trong nước và ngoài nước cho Nhà nước. - Theo giáo trình t chức và nhân sự hành chính nhà nước : Công sản gồm tất cả các tài sản (động sản và bất động sản) thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý để sử dụng vào mục đích phục vụ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của toàn dân.