Tổng quan luận án
| Thông tin chung |
Nội dung chi tiết |
| Tên đề tài luận án |
Quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam |
| Tác giả |
Trần Việt Phương |
| Người hướng dẫn khoa học |
1. PGS.TS. Nguyễn Trọng Thản 2. TS. Lê Thu Huyền |
| Cơ sở đào tạo |
Học viện Tài chính (Bộ Tài chính – Bộ Giáo dục và Đào tạo) |
| Chuyên ngành / Mã số |
Kinh tế Tài chính – Ngân hàng / 62.01 |
| Năm bảo vệ |
2017 |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tài sản công là nguồn lực nội sinh của đất nước, đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và quản lý xã hội, cung cấp nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển, phục vụ công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tất cả tài sản công đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý; Nhà nước giao quyền quản lý và trực tiếp sử dụng cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc bộ máy nhà nước. Tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập là cơ sở vật chất cần thiết để duy trì hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công và thực hiện các chức năng xã hội.
Việc nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công trong khu vực này xuất phát từ các lý do chủ yếu:
- Tài sản công trong các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập chiếm tỷ trọng và giá trị rất lớn, phản ánh sức mạnh kinh tế của quốc gia nhưng nguồn lực này không phải là vô hạn.
- Quản lý hiệu quả góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; những yếu kém trong quản lý dẫn đến thất thoát, lãng phí và làm suy giảm nội lực quốc gia.
- Quản lý tốt tài sản công bảo đảm thực hiện nhiệm vụ được giao, phản ánh trình độ hiện đại hóa nền hành chính quốc gia.
- Quản lý tiết kiệm, minh bạch góp phần nâng cao uy tín của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, củng cố niềm tin của nhân dân.
Trong quá trình đổi mới quản lý tài chính công, công tác quản lý tài sản công tại Việt Nam đã đạt được một số kết quả như thiết lập khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, phân định thẩm quyền và trách nhiệm quản lý, xây dựng Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công, triển khai mua sắm tập trung và từng bước hình thành các khu hành chính tập trung. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: tình trạng sử dụng vượt tiêu chuẩn, định mức; cho thuê, cho mượn tài sản không đúng quy định; tự ý sắp xếp, xử lý làm thất thoát tài sản; đầu tư xây dựng trụ sở làm việc xa hoa, lãng phí; việc mua sắm tập trung triển khai còn chậm. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công là yêu cầu cấp bách.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích tổng quát: Nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.
- Mục đích cụ thể:
- Thứ nhất: Làm rõ khái niệm, nội hàm các thuật ngữ “tài sản nhà nước”, “tài sản thuộc sở hữu nhà nước”, “tài sản thuộc sở hữu toàn dân”, “tài sản công” để xác lập cơ chế quản lý phù hợp; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể đại diện chủ sở hữu và giao quyền quản lý gắn liền với trách nhiệm cho các bộ, ngành, địa phương, đơn vị.
- Thứ hai: Xác định các yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập; tạo lập cơ sở pháp lý đồng bộ với Hiến pháp năm 2013, Luật Đấu thầu, Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước để kiểm tra, giám sát việc sử dụng tài sản đúng mục đích và chống lãng phí.
- Thứ ba: Đề xuất định hướng chuyển dịch cơ chế quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập từ phương thức đầu tư xây dựng, mua sắm để trang bị bằng hiện vật sang cơ chế thuê tài sản và khoán kinh phí tự túc tài sản phục vụ công tác.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý, sử dụng tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm hệ thống cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện quản lý tài sản công.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Hệ thống cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trên phạm vi cả nước.
- Thời gian: Giai đoạn từ năm 2009 (thời điểm Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009) đến năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trong nước
Tác giả đã tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu trong nước theo từng nhóm vấn đề:
- Nhóm nghiên cứu về quản lý trụ sở làm việc, nhà công sở:
- PGS. Nguyễn Ngô Thị Hoài Thu [37] với đề tài “Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước”.
- Tác giả Nguyễn Thị Lan Phương (2006) [43] với đề tài “Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý, sử dụng trụ sở làm việc của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam”.
- Tác giả Trần Diệu An (2006) [44] với đề tài “Quản lý, sử dụng trụ sở làm việc của cơ quan hành chính ở Việt Nam”.
- Đánh giá của luận án: Các đề tài trên đã khái quát thực trạng và đưa ra các khuyến nghị nhưng phạm vi nghiên cứu hẹp, chỉ tập trung vào một loại tài sản là trụ sở làm việc và dữ liệu nghiên cứu thuộc giai đoạn trước khi ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008.
- Nhóm nghiên cứu về chiến lược quản lý tài sản công và đơn vị sự nghiệp:
- PGS. [39] (2000) với đề tài “Chiến lược đổi mới cơ chế quản lý TSC giai đoạn 2001-2010”.
- TS. Phạm Đức Phong (2002) [40] với đề tài NCKH cấp Bộ “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp”.
- Đánh giá của luận án: Các công trình đánh giá thực trạng giai đoạn 1995–2002; trong đó đề tài của TS. Phạm Đức Phong chỉ tập trung vào tài sản phục vụ lĩnh vực giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ mà chưa đánh giá tổng thể hiệu quả cơ chế quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập.
- Nhóm nghiên cứu tổng quan khu vực hành chính sự nghiệp:
- Tác giả Nguyễn Mạnh Hùng (2005) [41] với đề tài “TSC và sử dụng TSC ở Việt Nam hiện nay”.
- Tác giả La Văn Thịnh (2006) [42] với đề tài “Sử dụng tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt nam thực trạng và giải pháp”.
- Đánh giá của luận án: Đã cung cấp bức tranh số liệu phong phú giai đoạn 1995–2005 nhưng số liệu đã cũ và chưa phản ánh được cơ chế quản lý mới theo Luật năm 2008.
- Nhóm luận án tiến sĩ chuyên sâu:
- TS. Phan Hữu Nghị (2009) [45] với luận án “Quản lý tài sản công trong các cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam”.
- TS. Nguyễn Mạnh Hùng [47] với luận án “Cơ chế quản lý tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp ở Việt Nam”.
- Đánh giá của luận án: Hai luận án đã phân tích vai trò và chỉ ra bất cập trong hệ thống chính sách, tuy nhiên do thời điểm nghiên cứu chưa thành lập Trung tâm Dữ liệu quốc gia về tài sản nhà nước nên số liệu thống kê chưa đầy đủ, các đánh giá chủ yếu dừng ở mức định tính.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài
- “Managing Government Property Assets: Sharing International Experiences” (2006), The Urban Institute Press, Washington DC [34]: Đánh giá cơ chế quản lý tài sản công khu vực hành chính sự nghiệp tại Mỹ, Trung Quốc, Pháp, Thụy Sĩ, Canada, Úc; nêu bật mối quan hệ giữa cải cách kế toán và cải cách quản lý tài sản công, phân chia quyền sở hữu và quyền quản lý, cùng việc hoàn thiện hệ thống thông tin.
- Các nghiên cứu của Olga Kaganova và James McKellar: “Central Government Asset Management Reforms” [35] và “Property-Related Public-Private Partnerships” [36].
- Giáo trình “Politique de finances publiques” (Chính sách tài chính công, 2004) của Tremblay, Đại học UQAM [17].
| Nhóm tài liệu |
Tác giả, công trình tiêu biểu |
Nội dung chính |
Hạn chế / Khoảng trống nhận diện |
| Nghiên cứu trụ sở công sở |
Nguyễn Ngô Thị Hoài Thu [37], Nguyễn Thị Lan Phương [43], Trần Diệu An [44] |
Quản lý nhà công sở, trụ sở làm việc cơ quan hành chính |
Đối tượng hẹp, số liệu trước thời điểm ban hành Luật năm 2008 |
| Nghiên cứu cơ chế TSC và ĐVSN |
PGS. [39], Phạm Đức Phong [40], Nguyễn Mạnh Hùng [41], La Văn Thịnh [42] |
Thực trạng quản lý, sử dụng TSC khu vực HCSN giai đoạn 1995–2005 |
Số liệu đã cũ, chưa cập nhật khung khổ pháp lý Luật năm 2008 |
| Luận án TS chuyên ngành |
Phan Hữu Nghị (2009) [45], Nguyễn Mạnh Hùng [47] |
Cơ chế quản lý TSC khu vực HCSN, cải cách hành chính |
Dữ liệu chưa có sự hỗ trợ của Trung tâm dữ liệu quốc gia, nặng về định tính |
| Nghiên cứu quốc tế |
Urban Institute Press [34], Olga Kaganova & James McKellar [35, 36], Tremblay [17] |
Cải cách quản lý tài sản công, kế toán công sản, mô hình đối tác công tư |
Cần xem xét điều kiện vận dụng vào thể chế kinh tế của Việt Nam |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Luận án tập trung giải quyết khoảng trống về việc đánh giá toàn diện cơ chế quản lý tài sản công tại cả cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trong giai đoạn thực thi Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 (từ năm 2009 đến năm 2015). Luận án khai thác hệ thống dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công và kết quả tổng kiểm kê tài sản để kết hợp phân tích định tính và định lượng, làm cơ sở đề xuất hoàn thiện cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện, hướng tới việc xây dựng Luật Quản lý, sử dụng tài sản công thay thế Luật năm 2008.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Bản chất hai mặt của tài sản: Tài sản có hai mặt cơ bản: mặt thứ nhất là thực thể vật chất (vật có thực, tiền, giấy tờ có giá); mặt thứ hai là quan hệ tài sản (quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt, quyền và nghĩa vụ dân sự theo Bộ luật Dân sự).
- Khái niệm tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập: Dựa trên quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm 2013, Điều 200 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 3 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008, tác giả xác định: Tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập là tài sản bằng hiện vật hoặc bằng tiền ngân sách mà Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng để duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp.
- Nguồn hình thành: Hình thành từ (i) Nhà nước giao bằng hiện vật, quyền sử dụng đất; (ii) Nhà nước giao ngân sách để đầu tư xây dựng; (iii) Nhà nước giao ngân sách để mua sắm; cùng các nguồn viện trợ, đóng góp được xác lập quyền sở hữu nhà nước.
| Tiêu chí phân biệt |
Cơ quan nhà nước (CQNN) |
Đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSN) |
| Mục đích sử dụng chính |
Thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp và quản lý nhà nước |
Cung cấp dịch vụ công cộng và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội |
| Nguồn gốc hình thành tài sản |
Hầu hết từ ngân sách nhà nước cấp phát |
Đan xen từ ngân sách nhà nước, nguồn thu sự nghiệp và xã hội hóa |
| Cơ chế thu hồi vốn |
Không trích khấu hao, không thu hồi vốn qua giá thành sản phẩm |
Tính hao mòn/khấu hao vào giá dịch vụ công để thu hồi vốn |
| Tái đầu tư tài sản |
Dựa hoàn toàn vào dự toán ngân sách nhà nước cấp |
Trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để tái đầu tư |
| Phân loại đơn vị theo quy định |
CQ Lập pháp, Hành pháp (TW đến địa phương), Tư pháp |
4 nhóm tự chủ (NĐ 16/2015/NĐ-CP); 2 nhóm tự chủ tài sản (NĐ 04/2016/NĐ-CP) |
- Nguyên tắc quản lý tài sản công:
- Xác định rõ chủ thể quản lý, sử dụng gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, đơn vị.
- Thống nhất cơ chế, chính sách, chế độ quản lý trên toàn quốc kết hợp phân công, phân cấp rõ ràng.
- Sử dụng đúng mục đích, đúng tiêu chuẩn, định mức, bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả.
- Hạch toán đầy đủ cả về hiện vật và giá trị theo quy định của pháp luật; định giá tài sản theo cơ chế thị trường khi bán, cho thuê, thanh lý.
- Thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa định kỳ đúng quy trình kỹ thuật.
- Công khai, minh bạch toàn bộ quá trình đầu tư, mua sắm và sử dụng tài sản để phục vụ giám sát.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính: Phân tích, tổng hợp hệ thống văn bản pháp luật; nghiên cứu và đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài sản công theo Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 và các văn bản hướng dẫn; đi sâu vào các khâu phân cấp quản lý, đầu tư xây dựng, mua sắm, hạch toán, xây dựng cơ sở dữ liệu và xử lý tài sản.
- Phương pháp nghiên cứu định lượng: Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài sản công; tổng hợp và phân tích dữ liệu thống kê phản ánh số lượng, chủng loại, giá trị, hiện trạng tài sản công qua các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm kê.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn số liệu thứ cấp được thu thập từ:
- Báo cáo tổng kết, kết quả điều tra và tổng kiểm kê tài sản trên phạm vi cả nước do Chính phủ và Bộ Tài chính công bố.
- Báo cáo khảo sát, kỷ yếu hội thảo quốc tế và số liệu chuyên môn do Cục Quản lý Công sản (Bộ Tài chính) cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý tài sản công trong cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập
- Đặc điểm và phân loại tài sản công: Tài sản công được phân loại theo 3 tiêu thức:
- Theo hình thái vật chất: Tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình (như quyền sử dụng đất, bằng sáng chế).
- Theo tính chất, giá trị, thời gian: Tài sản cố định (giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, thời gian sử dụng trên 1 năm) và tài sản khác (mau hỏng, giá trị thấp).
- Theo công dụng: Trụ sở làm việc (và cơ sở hoạt động sự nghiệp); phương tiện vận tải; máy móc, trang thiết bị và phương tiện làm việc.
- Nội dung quản lý tài sản công:
- Đầu tư xây dựng trụ sở: Thực hiện theo các hình thức quản lý dự án (chủ đầu tư trực tiếp quản lý, chủ nhiệm điều hành dự án, hoặc chìa khóa trao tay).
- Mua sắm tài sản công: Thực hiện qua 3 phương thức gồm mua sắm tập trung (áp dụng cho tài sản số lượng lớn, chủng loại phổ biến), mua sắm hợp nhất (gộp nhu cầu của nhiều đơn vị thành một gói thầu) và mua sắm phân tán. Lựa chọn nhà thầu qua các hình thức đấu thầu (rộng rãi, hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh) hoặc đàm phán giá.
- Hạch toán kế toán và tính hao mòn: Cơ quan, đơn vị phải hạch toán đầy đủ tài sản được giao. Tài sản cố định trong cơ quan hành chính không trích khấu hao mà tính hao mòn theo khung thời gian và tỷ lệ do Nhà nước quy định thống nhất.
- Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam: Từ kinh nghiệm quản lý tài sản công của Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Thụy Sĩ, Canada, Úc, Nga, tác giả rút ra 3 bài học kinh nghiệm:
- Chuyển dịch phương thức quản lý từ trang bị hiện vật sang thuê tài sản và khoán kinh phí phục vụ công tác.
- Áp dụng mô hình cơ quan chuyên trách quản lý tài sản công để nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả.
- Hình thành các tổ chức dịch vụ công để thực hiện mua sắm tập trung, bảo dưỡng, sửa chữa và cho các cơ quan, đơn vị thuê tài sản theo hợp đồng kinh tế.
Chương 2: Thực trạng quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam
- Tổng quan tổ chức bộ máy quản lý: Hệ thống cơ quan quản lý tài sản công được tổ chức từ Trung ương (Chính phủ, Bộ Tài chính trực tiếp là Cục Quản lý Công sản) đến các Bộ, ngành và chính quyền địa phương (UBND cấp tỉnh, Sở Tài chính).
- Thực trạng quản lý giai đoạn 2009–2015:
- Cơ chế phân cấp quản lý: Đã phân định thẩm quyền ban hành chính sách và thẩm quyền quyết định đầu tư, mua sắm, thuê, xử lý tài sản công giữa Trung ương và địa phương.
- Tiêu chuẩn, định mức: Ban hành hệ thống tiêu chuẩn, định mức trang bị trụ sở, ô tô, máy móc làm việc làm căn cứ lập dự toán và kiểm tra sử dụng.
- Đầu tư xây dựng và sắp xếp lại trụ sở làm việc: Tiến hành sắp xếp, xử lý nhà đất thuộc sở hữu nhà nước; từng bước hình thành quy hoạch các khu hành chính tập trung.
- Mua sắm tài sản công: Triển khai thí điểm mua sắm tập trung đối với một số tài sản công có giá trị mua sắm lớn.
- Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công: Đã thiết lập phần mềm và hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia, cập nhật số liệu về số lượng, giá trị, hiện trạng tài sản nhà nước.
- Khai thác và xử lý tài sản: Quản lý việc khai thác tài sản tại đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ; thực hiện các hình thức xử lý tài sản công gồm điều chuyển, bán, thanh lý và tiêu hủy.
- Đánh giá thực trạng:
- Kết quả đạt được: Tạo lập khuôn khổ pháp lý cơ bản; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm; hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia phản ánh thực trạng tài sản; triển khai bước đầu phương thức mua sắm tập trung.
- Tồn tại, hạn chế: Sử dụng tài sản vượt tiêu chuẩn, định mức; cho thuê, mượn tài sản sai quy định; đầu tư xây dựng trụ sở làm việc còn xa hoa, lãng phí; mua sắm tập trung triển khai chậm; tự ý sắp xếp xử lý tài sản gây thất thoát.
- Nguyên nhân: Hệ thống chính sách pháp luật chưa đồng bộ (vướng mắc giữa Luật năm 2008 với các luật chuyên ngành); chế tài xử lý vi phạm chưa nghiêm; năng lực cán bộ quản lý tài sản còn hạn chế; công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập trong thời gian tới
- Mục tiêu, yêu cầu: Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, bảo đảm trang bị đúng định mức, tiết kiệm ngân sách, phục vụ tốt hoạt động của bộ máy nhà nước và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công.
- Hai nhóm giải pháp trọng tâm:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách:
- Nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 (hướng tới ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công) bảo đảm tính đồng bộ với Hiến pháp năm 2013, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, Luật Xây dựng.
- Đổi mới cơ chế trang bị tài sản: Chuyển dần từ việc cấp phát vốn đầu tư xây dựng, mua sắm hiện vật sang cơ chế thuê tài sản và khoán kinh phí sử dụng tài sản (nhất là xe ô tô phục vụ công tác và trụ sở làm việc).
- Rà soát, sửa đổi hệ thống tiêu chuẩn, định mức sử dụng tài sản công phù hợp với thực tiễn; hoàn thiện cơ chế tài chính cho phép đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ khai thác tài sản hợp pháp.
- Hoàn thiện khung pháp lý về mua sắm tập trung, quy định rõ danh mục tài sản bắt buộc mua sắm tập trung và quy trình đàm phán giá.
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện:
- Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng cơ chế, chính sách về quản lý, sử dụng tài sản công cho cán bộ, công chức, viên chức.
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát nội bộ và giám sát cộng đồng; xử lý nghiêm các trường hợp sử dụng sai mục đích, lãng phí tài sản công.
- Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài sản công.
- Duy trì, nâng cấp và cập nhật kịp thời hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công để phục vụ hiệu quả công tác quản lý và điều hành.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung quản lý và tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài sản công.
- Phân tích và làm rõ sự khác biệt giữa tài sản công tại cơ quan hành chính nhà nước (không trích khấu hao, tiêu dùng tài sản) và đơn vị sự nghiệp công lập (hình thành đan xen, tính hao mòn/khấu hao vào giá dịch vụ, trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp).
- Tổng kết kinh nghiệm quốc tế về quản lý tài sản công và chỉ ra các bài học phù hợp với bối cảnh chuyển đổi kinh tế tại Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Khái quát cơ chế quản lý tài sản công qua các thời kỳ và tập trung đánh giá toàn diện thực trạng quản lý, sử dụng tài sản nhà nước giai đoạn 2009–2015 theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008.
- Phân tích việc triển khai các cơ chế mới: phân cấp quản lý, đầu tư xây dựng trụ sở, mua sắm tài sản công (thí điểm mua sắm tập trung), hạch toán tính hao mòn, vận hành Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công và xử lý tài sản công (bán, thanh lý, điều chuyển).
- Chỉ rõ những kết quả đạt được, các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân cốt lõi về thể chế cũng như khâu tổ chức thực hiện.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm 2 nhóm (hoàn thiện cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện), cung cấp cơ sở luận cứ khoa học và thực tiễn trực tiếp cho quá trình xây dựng Luật Quản lý, sử dụng tài sản công (thay thế Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Phạm vi thời gian nghiên cứu thực trạng dừng lại ở năm 2015, gắn với khung pháp lý của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008.
- Đối tượng nghiên cứu giới hạn trong phạm vi cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, chưa bao quát tài sản công trong doanh nghiệp nhà nước, tài sản kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi và nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia.
- Dữ liệu nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn số liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kiểm kê và điều tra của cơ quan quản lý nhà nước, chưa thực hiện điều tra khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi trên diện rộng.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu, đánh giá hiệu lực thực thi của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công sau khi được Quốc hội ban hành và có hiệu lực thi hành.
- Nghiên cứu chuyên sâu về mô hình tổ chức cơ quan chuyên trách quản lý tài sản công và cơ chế vận hành của các đơn vị dịch vụ công quản lý tài sản theo hợp đồng kinh tế.
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế hợp tác công – tư (PPP) trong việc đầu tư, quản lý, khai thác cơ sở hạ tầng công sở và tài sản công tại các đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Cơ quan hoạch định chính sách: Bộ Tài chính (trực tiếp là Cục Quản lý Công sản), Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng trong việc nghiên cứu, soạn thảo Luật Quản lý, sử dụng tài sản công và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
- Cơ quan quản lý và sử dụng tài sản: Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân và Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trong việc triển khai phân cấp quản lý, rà soát tiêu chuẩn định mức, thực hiện mua sắm tập trung và sắp xếp trụ sở làm việc.
- Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế Tài chính – Ngân hàng, Quản lý công, Tài chính công tại Học viện Tài chính và các trường đại học khối kinh tế.
Nội dung có giá trị tham khảo cao
- Khung lý thuyết và tiêu chí phân loại tài sản công giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập.
- Tổng kết kinh nghiệm quốc tế về các mô hình quản lý tài sản công và phương thức thuê/khoán kinh phí tài sản.
- Đánh giá thực trạng thực thi các nội dung quản lý (mua sắm tập trung, vận hành cơ sở dữ liệu quốc gia, tính hao mòn) trong giai đoạn 2009–2015.
- Hệ thống giải pháp hoàn thiện chính sách và tổ chức bộ máy quản lý tài sản công.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập như thế nào?
Theo tác giả, tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập là tài sản bằng hiện vật hoặc bằng tiền ngân sách mà Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng để duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp. Các cơ quan, đơn vị này không có quyền sở hữu mà chỉ có quyền quản lý, sử dụng theo đúng mục đích, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định.
2. Sự khác biệt căn bản trong quản lý tài sản công giữa cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập là gì?
Tài sản công tại cơ quan nhà nước phục vụ quản lý hành chính, hình thành hầu hết từ ngân sách nhà nước, vốn đầu tư không thu hồi qua khấu hao mà chỉ tính hao mòn để quản lý. Trong khi đó, tài sản công tại đơn vị sự nghiệp công lập được hình thành đan xen từ ngân sách và nguồn xã hội hóa, gồm hai nhóm (phục vụ bộ máy và phục vụ hoạt động sự nghiệp); đơn vị sự nghiệp công lập có thể thu hồi vốn thông qua việc tính chi phí vào giá dịch vụ sự nghiệp, thực hiện trích khấu hao và trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để tái đầu tư.
3. Luận án chỉ ra các phương thức mua sắm tài sản công nào và hình thức lựa chọn nhà thầu tương ứng?
Luận án chỉ ra 3 phương thức mua sắm: (i) Mua sắm tập trung (áp dụng cho tài sản số lượng lớn, chủng loại tương tự theo danh mục quy định); (ii) Mua sắm hợp nhất (gộp nhu cầu cùng loại của nhiều đơn vị thành một gói thầu); (iii) Mua sắm phân tán (cho các tài sản còn lại). Việc lựa chọn nhà thầu được thực hiện qua: Đấu thầu (rộng rãi, hạn chế, chỉ định thầu, chào hàng cạnh tranh) hoặc Đàm phán giá (đối với tài sản có thông số kỹ thuật rõ ràng và giá bán công khai).
4. Hai nhóm giải pháp chính được luận án đề xuất để nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công là gì?
Luận án đề xuất:
- Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách: Tập trung hoàn thiện Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 (hướng tới ban hành Luật Quản lý, sử dụng tài sản công); đổi mới phương thức trang bị từ hiện vật sang thuê tài sản và khoán kinh phí; rà soát tiêu chuẩn định mức; hoàn thiện quy chế mua sắm tập trung và khai thác tài sản tại đơn vị sự nghiệp.
- Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện: Tăng cường tuyên truyền pháp luật; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; kiện toàn bộ máy và nâng cao năng lực cán bộ quản lý tài sản; duy trì và nâng cấp Cơ sở dữ liệu quốc gia về tài sản công.
5. Giai đoạn nghiên cứu của luận án là khoảng thời gian nào và vì sao tác giả lựa chọn mốc thời gian này?
Luận án nghiên cứu giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2015. Tác giả lựa chọn mốc thời gian này vì năm 2009 là thời điểm Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008 chính thức có hiệu lực thi hành (từ ngày 01/01/2009), đánh dấu bước đổi mới quan trọng trong khuôn khổ pháp lý về quản lý tài sản công tại Việt Nam.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Việt Phương đã hệ thống hóa cơ sở khoa học về quản lý tài sản công tại cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập, đồng thời phân tích toàn diện thực trạng quản lý giai đoạn 2009–2015 theo quy định của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước năm 2008. Công trình đã làm rõ những thành tựu về xây dựng khung pháp lý, thiết lập Cơ sở dữ liệu quốc gia và thí điểm mua sắm tập trung, bên cạnh việc chỉ ra các hạn chế về lãng phí, sử dụng vượt định mức và cơ chế chính sách chưa đồng bộ. Trên cơ sở đó, luận án đề xuất hai nhóm giải pháp mang tính hệ thống về hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện, chuyển dịch phương thức trang bị tài sản từ hiện vật sang thuê và khoán kinh phí, đóng góp luận cứ khoa học cho quá trình xây dựng Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.