Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Thanh tra tỉnh trong phòng, chống tham nhũng Chương 2: Thực trạng vai trò của Thanh tra tỉnh Thanh Hóa trong phòng, chống tham nhũng Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của thanh tra tỉnh trong phòng, chống tham những ở Việt Nam CHUONG 1. CO SO LY LUAN VE VAI TRO CUA THANH TRA TINH TRONG PHONG, CHONG THAM NHUNG 1. Những van đề lý luận về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm, đặc điểm, các loại và hành vi tham những 1.
Khải niệm về tham những Mặc dù tham nhũng là một van dé nổi cộm và cũng đã được rất nhiều giới chuyên gia, học giả nghiên cứu, tuy nhiên, cho đến hiện nay định nghĩa chung về tham nhũng vẫn chưa được thừa nhận một cách chính thức trên toàn thé giới. Theo quy định tại Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng, tham nhũng [2] bao gồm các hành vi như: hành vi hồi lộ, hành vi tham ô, hành vi biển thủ công quỹ hoặc hành vi của đội ngũ công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình nhăm mục đích chiếm đoạt tài sản hay lợi dụng ảnh hưởng để mang lại lợi ích cho bản thân. Từ đó, có thể thấy Công ước cũng không đưa ra một định nghĩa về tham nhũng mà chỉ xác định một tập hợp các hành vi nên được coi là tham nhũng. Trên thực tẾ, việc xây dựng định nghĩa chung về tham nhũng trên toàn thế giới gặp phải những khó khăn nhất định.
Nhất là bởi sự khác biệt về nhận thức, quan điểm liên quan đến những khía cạnh pháp lý, văn hóa, chính trị của tham nhũng của từng quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, có một vài định nghĩa về tham nhũng của một số từ điện uy tín hoặc của các tổ chức quốc tế công được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu và thực tiễn PCTN. Ví dụ như, thuật ngữ “tham nhũng” — corruption có nguồn gốc từ tiếng Latinh là corruptus, nghĩa là lạm dung (abuse), phá hoại (destroy), hay vi phạm (break). Nhu vậy, thuật ngữ “tham những” có hàm ý là những hành vi trái phép hoặc bất hợp phap.
Ngân hàng thế giới cũng đã đưa ra một định nghĩa xúc tích về tham những và được viện dẫn nhiều trên thực tế đó là: “Tham những là hành vi lam dụng quyên lực công dé thu lợi ích riêng (the abuse of public office for private gain”[31]. Tương tự hai tô chức trên, Tổ chức Minh bạch quốc tế [28] cũng đưa ra một định nghĩa, theo đó, tổ chức nay coi tham nhũng là hành vi lạm dụng quyền lực được giao nhằm mục đích làm giàu bất chính hoặc vi phạm pháp luật dé mang lợi ích về cho bản thân hoặc cho những người thân cận của một bộ phận nhân viên công quyền, có thé là các nhà chính trị hoặc viên chức [29, tr. Tuy nhiên, Ngân hang phát triển Châu A (Asian Development Bank — ADB) đã khắc phục nhược điểm của những định nghĩa trên là chưa chú rọng đúng mức đến tham nhũng trong khu vực tư và đưa ra định nghĩa tham những là “sự lạm dụng quyền lực công hoặc tư dé thu lợi riêng” hoặc là “hành động lạm dụng chức vụ dé làm giau bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản than hoặc cho những người than cận của một bộ phận nhân viên ở cả khu vực công và khu vực tư, hoặc dé tạo cơ hội cho những kẻ khác làm như vậy”[26] Ở Việt Nam trước đây, tại khoản 2 Điều 1 của Luật PCTN năm 2005 [6] (đã được sửa đổi, bồ sung một số điều vào các năm 2007 và 2012) đưa ra định nghĩa: “Tham những là hành vi của người có chức vụ, quyên hạn đã lợi dụng chức vụ, quyên hạn đó vì vụ lợi”. Tuy nhiên, những người có chức vụ, quyên han theo như quy định tại Khoản 3 Điều này mới chỉ được đề cập đến các chủ thể ở khu vực công.
Đây là điểm hạn chế vô cùng lớn của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005. Bởi, phạm vi dé tham nhũng có cơ hội sinh sôi, nảy nở, phát triển là rất rộng, có thể hình thành ở cả khu vực tư. Do đó, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 đã mở rộng vấn đề sang cả khu vực tư, băng cách mở rộng định nghĩa vê người có chức vụ, 10 quyền hạn. Cụ thể, theo Điều 3 khoản 1 Luật này, ngoài các chủ thể nêu ở Luật PCTN năm 2005, khái niệm người có chức vụ, quyền hạn còn bao gồm: Người đại điện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tô chức; Những người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó.
Về nội hàm định nghĩa về tham nhũng theo pháp luật Việt Nam hiện đã tương thích với các định nghĩa của WB, TI va ADB và quan niệm cua nhiều quốc gia khác — coi bản chất của hành vi tham nhũng là việc lạm dụng quyền lực công cộng phục vụ lợi ích riêng. Như vậy, nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam đã tiếp cận về quyền lực trong phòng chống tham những là quyền lực công cộng nói chung, bao gồm quyền lực nhà nước và quyền lực của các chủ thể ngoài nhà nước được hình thành do sự ủy quyền của cộng đồng, nhóm xã hội, tập thé với mọi quy mô, và quyền lực này luôn có nguy cơ tha hóa khi nó bị lạm dụng dé phuc vu loi ich thiểu số mà đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng. Quan niệm này có hệ quả lý thuyết và thực tiễn tất yếu là chủ thê của kiểm soát quyền lực trong một mối quan hệ kiêm soát khác. Cách tiếp cận này có hệ quả lý thuyết và thực tiễn tất yêu là chủ thé của kiểm soát quyền lực cũng đồng thời là đối tượng của kiểm soát quyền lực trong một mối quan hệ kiểm soát khác.
Cách tiếp cận mới của Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 đặt ra nhu cầu khách quan, bức thiết về hợp tác và kiểm soát lẫn nhau giữa hai khu vực công — tư trong phòng, chống tham nhũng. Đặc điểm của tham nhũng Từ góc độ tội phạm học, tham nhũng là một hành vi vi phạm pháp luật, song có một số đặc điểm khác biệt so với những hành vi vi phạm pháp luật thông thường. Theo quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, tham nhũng sẽ bao gồm các đặc điểm cơ bản sau:[25, tr.12-14] Đặc điểm dau tiên là về van dé chủ thé. Chủ thể của tham nhũng theo quy định của pháp luật Việt Nam là những người có chức vụ, quyên han và bao gôm: Các cán bộ, công chức va II viên chức; Các sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp cũng như công nhân và viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; Các sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ hoặc sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn — kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan và đơn vi thuộc Công an nhân dân; Cá nhân làm đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp; Các cá nhân giữ chức danh cũng như chức vu quản lý trong các doanh nghiệp, t6 chức; Những người khác được giao thực hiện các nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện các nhiệm vụ, công vụ đó.
Thông thường các nhóm đối tượng nêu trên là những người đã có quá trình công tác nên có nhiều hiểu biết, kinh nghiệm, được đào tạo có hệ thống, có quan hệ rộng và có uy tín xã hội nhất định việc việc phát hiện, điều tra, xét xử hành vi tham nhũng của họ không dễ dàng. Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi tham những thông qua việc lợi dụng chức vụ, quyền han mà minh được giao Hành động lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhằm mục đích vụ lợi được coi là một trong những đặc trưng cơ bản, là yếu tố giúp xác định hành vi tham nhũng. Trong quá trình thực hiện hành vi tham nhũng, chủ thể tham nhũng sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện dé thu lợi bất chính cho bản thân, gia đình mình hoặc cho người khác. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn đều được coi là hành vi tham nhũng, bởi hành vi này cũng có thé cau thành vi phạm pháp luật khác.
Thứ ba, mục đích của hành vi tham nhũng chính là vì mục đích vu lợi Động cơ dé thực hiện hành vi tham nhũng là vì mục đích vụ lợi. Theo quy định tại Khoản 7 Điều 3 Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, vụ lợi là “việc người có chức vụ, quyên hạn đã lợi dụng chức vụ, quyên hạn nhằm đạt được lợi ích vật chất hoặc lợi ích phi vật chất không chính đáng”. Thong thường, những lợi ích mà đối tượng tham nhũng hướng tới bao gồm: Tiền, tài sản công (đôi với hành vi tham ô.); tiên, tai sản của doanh nghiệp, cá nhân, 12 lợi ích phi vật chất (đối với hành vi nhận hối lộ. Đối với những lợi ích phi vật chất, thông thường đó là chức vụ, quyền hạn song đôi khi có cả cơ hội hay tình dục.
Các loại và hành vi tham nhũng Dưới góc độ pháp lý, tham nhũng thé hiện qua hành vi cụ thé mà được xem là vi phạm pháp luật. Theo UNCAC, những hành vi cần được xem là tham nhũng được quy định lần lượt tại các Điều từ Điều 15 đến Điều 25 như sau: Hồi lộ công chức quốc gia; Hoi lộ công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công, Tham 6, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản khác bởi công chức, Lợi dụng ảnh hưởng dé trục loi; Lam dụng chức năng; Làm giàu bat hợp pháp; Hoi lộ trong khu vực tư; Biển thủ tài sản trong khu vực tu; Teay rua tài san do phạm toi mà có, Che gidu tài san; Can trở hoạt động tư pháp. Tương tự, trong Luật PCTN của Việt Nam cũng có quy định về những hành vi được xem là tham nhũng. Cu thể, tại Điều 2 Luật PCTN năm 2018, các hành vi được xem là tham nhũng được xem xét ở hai khu vực, đó là khu vực công và khu vực tư.
Đối với khu vực công, Luật PCTN năm 2018 đã liệt kê ra 12 hành vi được coi là tham nhũng. Trong đó, chủ yếu là các hành vi được thực hiện từ những người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tô chức, đơn vị khu vực nhà nước nhằm mang lại lợi ích (cả về vật chất và phi vật chất) cho bản thân, gia đình và những người thân quen của mình.