Chương 1: Những vấn đề lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. 8 1 Chƣơng 1 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN 3 PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH 1. Pháp luật về đăng ký kinh doanh 1. Khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh • Khái niệm đăng ký kinh doanh Đăng ký kinh doanh là một thủ tục pháp lý mà theo đó nhà đầu tư phải khai báo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về dự kiến hoạt động của mình theo đúng quy định của pháp luật với các nội dung cụ thể, được Nhà nước thừa nhận ghi tên vào sổ ĐKKD đồng thời cấp cho chủ thể ĐKKD giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Giấy chứng nhận ĐKKD là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể kinh doanh tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo hộ. ĐKKD được hiểu là một hoạt động pháp lý áp dụng cho các chủ thể kinh doanh khi gia nhập thị trường. Như vậy, để gia nhập thị trường và được hoạt động thì doanh nghiệp cần cả điều kiện cần và đủ cụ thể là: những loại hình kinh doanh, DN chỉ cần điều kiện cần tức là chỉ cần đăng ký doanh nghiệp và được cấp GCNĐKDN, đối với các lĩnh vực, ngành nghề không cần điều kiện, và phải có thêm điều kiện đủ, đối với những lĩnh vực, ngành nghề theo pháp luật đầu tư và chuyên ngành quy định là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Thông qua hoạt động ĐKKD các chủ thể sẽ được đảm bảo về quyền và nghĩa vụ, được xác lập một địa vị pháp lý hợp pháp để các chủ thể kinh doanh tiến hành mọi hoạt động kinh doanh chính thức trên thị trường trong nước cũng như thị trường nước ngoài.
Do đó, hoạt động ĐKKD không chỉ áp dụng cho các chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh là những doanh nghiệp mà ở đó còn áp dụng cho cả chủ thể hoạt động kinh doanh khác như hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh. ĐKKD là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước, đồng thời là một công cụ để thực hiện quyền tự do kinh doanh của công dân. Thông qua cơ chế “đăng ký” để công nhận quyền tự do kinh doanh của công dân, thực hiện một cơ 9 chế quản lý mới của nhà nước, xoá bỏ cơ chế “xin cho”, công dân được kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong những hoạt động kinh doanh của mình, được tự do lựa chọn hình thức đầu tư kinh doanh phù hợp và được Nhà nước bảo hộ. Do đó, để đạt được mục tiêu gia nhập thị trường cho các chủ thể kinh doanh được thuận lợi, công tác ĐKKD phải đơn giản, minh bạch và bình đẳng, thủ tục nhanh gọn, chi phí thấp.Chính những điều này để nhà nước tôn trọng quyền tự do kinh doanh hợp pháp của các chủ thể kinh doanh.
Mặt khác, nền kinh tế của các quốc gia đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế, việc mở rộng quyền tự do kinh doanh tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh dễ tiếp cận với những thị trường và đối tác lớn về kinh tế sẽ làm gia tăng lợi ích của chính mình và giúp kinh tế quốc gia phát triển. Hoạt động ĐKKD không có sự phân biệt giữa chủ thể kinh doanh trong nước và ngoài nước, mọi hoạt động ĐKKD phải phù hợp với nền kinh tế thị trường được vận hành ổn định, an toàn, bình đẳng, nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững, phù hợp với các lợi ích công cộng. Xuất phát từ nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, quản lý nhà nước đối với việc thành lập doanh nghiệp thông qua hoạt động đăng ký kinh doanh là để hướng tới việc khơi dậy ý tưởng kinh doanh, ý thức làm giàu cho bản thân và đất nước. “Đăng ký kinh doanh là một hoạt động pháp lý trong đó chủ thể kinh doanh thực hiện việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kinh doanh) nhằm ghi nhận sự ra đời của một mô hình kinh doanh và xác định địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh đó trên thị trường ” [28].
Từ những phân tích trên, tác giả có thể khái quát: “Đăng ký kinh doanh là một hoạt động pháp lý theo đó thủ tục đăng ký kinh doanh có tính bắt buộc chủ thể kinh doanh thực hiện việc đăng ký thông tin đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kinh doanh) nhằm ghi nhận sự ra đời của một mô hình kinh doanh và xác định địa vị pháp lý của chủ thể kinh doanh đó trên thị trường ” 10 Thuật ngữ ĐKKD được sử dụng phổ biến trước đây nhưng đã có điều chỉnh qua những chặng đường phát triển của quản lý nhà nước về ĐKKD. Trong Luật Doanh nghiệp năm 2005, thuật ngữ ĐKKD được sử dụng. Sau đó, từ Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, Nghị định 102/2010/NĐ- CP hướng dẫn Luật doanh nghiệp thuật ngữ này chuyển thành đăng ký doanh nghiệp và sau này là Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng văn bản hướng dẫn thi hành. Thuật ngữ “Đăng ký doanh nghiệp” được giải thích tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của Chính phủ về Đăng ký doanh nghiệp “Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi những nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của nghị định này”. Về bản chất, hai thuật ngữ này được sử dụng giống nhau là thủ tục đăng ký khai sinh ra doanh nghiệp, điều chỉnh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhưng xét trên phương diện câu chữ, nó lại có sự khác nhau trên một số phương diện như: ĐKKD đề cập đến mục đích hoạt động quản lý nhà nước, ĐKDN hướng đến hậu quả pháp lý một cách trực tiếp là doanh nghiệp. Việc ĐKKD là do CQNN trao cho chủ thể quyền cũng như giao phó nghĩa vụ theo quy định. [28] Đặc điểm, đối tƣợng, hình thức của Đăng ký kinh doanh - Đặc điểm đăng ký kinh doanh Thứ nhất, ĐKKD là một trong những dịch vụ hành chính công do cơ quan QLNN trực tiếp thực hiện.
Thứ hai, theo quy định trong Luật doanh nghiệp ĐKKD cũng là thủ tục đầu tiên để tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp. Thứ ba, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đăng ký gia nhập thị trường đều phải thực hiện theo một khung pháp lý chung gồm các TTHC sau: 1) ĐKKD (bao gồm đăng ký mã số thuế), 2) Công bố mẫu con dấu 11 Thứ tư, để thành lập 1 trong 4 loại hình doanh nghiệp (Công ty TNHH, Công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh) thì nhà đầu tư sẽ thực hiện thủ tục ĐKDN với cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính. -Đối tượng đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp bao gồm: (1) Doanh nghiệp tư nhân; (2) Công ty cổ phần; (3) Công ty hợp danh; (4) Công ty TNHH (Gồm Công ty TNHH 1 thành viên và Công ty TNHH 2 thành viên). - Hình thức đăng ký kinh doanh: Theo tính chất ĐKDN, có các hình thức ĐKDN sau: (1) Đăng ký thành lập mới các loại hình doanh nghiệp; (2) Đăng ký thay đổi các loại hình doanh nghiệp; (3) Đăng ký chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp.
• Khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh Pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam lần đầu được “khai sinh” bằng chế định riêng trong văn bản quy phạm pháp luật vào năm 1990, khi Quốc hội thông qua Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty cùng các văn bản hướng dẫn ra đời đã mang lại sự cải thiện lớn về tính công khai trong các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục và điều kiện ĐKKD, tính minh bạch trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về ĐKKD. Những quy định này đã góp phần tạo điều kiện cho chủ thể kinh doanh được thực hiện quyền tự do kinh doanh. [28] Trong quá trình thực thi thủ tục ĐKKD, cả doanh nghiệp và cơ quan ĐKKD cũng như các cơ quan nhà về kinh tế có liên quan đều phải chịu sự tác động và điều chỉnh của pháp luật, vì vậy, có thể đưa ra khái niệm: “Pháp luật về đăng ký kinh doanh là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để nhằm điều chỉnh những vấn đề về điều kiện, nội dung và trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh của các chủ thể kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cũng như trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh ”. Theo khái niệm trên, pháp luật về ĐKKD được hiểu là những quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã hội giữa chủ thể đăng ký kinh doanh và cơ quan ĐKKD trong việc ĐKKD, thủ tục ĐKKD, các biện pháp chế tài để đảm bảo việc ĐKKD được thực hiện đúng pháp luật và những vấn đề khác liên quan đến hoạt động ĐKKD.
12 Sự quy định pháp luật về ĐKKD là một tất yếu khách quan, tạo ra những đảm bảo pháp lý về điều kiện, trình tự, thủ tục, để chủ thể kinh doanh vận dụng khởi sự doanh nghiệp, yên tâm khi lựa chọn một mô hình kinh doanh. Thông qua việc ban hành những QPPPL về ĐKKD để nhà nước ghi nhận sự ra đời của một thực thể kinh doanh, đồng thời kiểm soát quá trình hình thành, phát triển của một loại hình kinh doanh theo hướng tích cực, loại bỏ những doanh nghiệp không đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật ngay từ đầu, nhằm tạo nên một môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, đảm bảo những lợi ích của nền kinh tế thị trường.