Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm và vai trò của tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm “Nhu cầu” Nhu cầu của người lao động rất phong phú và đa dạng. Nhu cầu của con người luôn biến đổi không ngừng cùng với sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, trong bất cứ môi trường biến động nào thì người lao động cũng cần thỏa mãn cả nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Việc thỏa mãn các nhu cầu của người lao động ảnh hưởng rất lớn tới động lực làm việc của người lao động, tuy nhiên lợi ích của người lao động mới là động lực chính thúc đẩy người lao động làm việc hiệu quả.
Theo Nguyễn Tiệp (2007): “Nhu cầu được hiểu là sự không đầy đủ về vật chất hay tinh thần mà làm cho một số hệ quả (hệ quả của việc thực hiện nhu cầu) trở nên hấp dẫn” [22, tr. Theo Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009): “Nhu cầu được hiểu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển”.83] Trên cơ sở kế thừa các quan điểm trên, trong nghiên cứu này tác giả cho rằng: Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người thể hiện sự đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng về vật chất và tinh thần để có thể tồn tại và phát triển. Khái niệm “Doanh nghiệp” và “Doanh nghiệp Nhà nước” Theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 của Việt Nam: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”.[15] Theo Luật Doanh nghiệp 2020 của Việt Nam: “Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này”. [16] Tại Việt Nam, các trường hợp sau được coi là doanh nghiệp Nhà nước: Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
Doanh nghiệp có thành viên là Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết, bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở 9 lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế, công ty mẹ của tổng công ty nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Khái niệm “Động lực” và “Động lực lao động” Theo Guay, Fet al, (2010): “Động lực là lý do để thực hiện hành vi” [6, tr. Sheri Coates Broussard and M. Betsy Garrison (2004): “Động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó” [11] Theo Hoàng Phê (2011): “Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển” [14, tr.
Theo Nguyễn Hải Sản (2010): “Động lực là sự dấn thân, sự lao vào công việc của con người” [18, tr.290] Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012): “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó” [17, tr.152] Theo Đoàn Văn Tình (2022): “Động lực làm việc là sự khát khao, tự nguyện, sẵn lòng làm việc, hướng nỗ lực của bản thân vào thực hiện nhiệm vụ để đạt mục tiêu trong công việc và của tổ chức” [24, tr.45] Động lực lao động không phải là đặc điểm của tính cách cá nhân, chính vì thế mà không tồn tại người có động lực và người không có động lực làm việc. Động lực làm việc có thể thay đổi thường xuyên, biến động không ngừng và phụ thuộc vào các yếu tố tác động xung quanh công việc bao gồm cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài. Động lực làm việc được gắn liền với một công việc cụ thể, trong một tổ chức cụ thể, một môi trường làm việc cụ thể và ảnh hưởng lớn tới năng suất lao động, hiệu quả hoạt động của tổ chức. Động lực lao động có vai trò quan trọng trong việc kích thích người lao động làm việc hăng say và hiệu quả hơn.
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm “Động lực lao động” của Bùi Anh Tuấn và Phạm Thúy Hương (2009): “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [21, tr. Trên cơ sở kế thừa quan điểm trên, tác giả cho rằng, những nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm công cụ vật chất và phi vật chất tác động trực tiếp tới động lực làm việc của người lao động. Người lao động có động lực làm việc tích cực sẽ tạo ra năng suất, hiệu quả cao và ngược lại khi người lao động thiếu động lực sẽ ảnh hưởng tới năng suất, hiệu quả công việc thấp. Khái niệm “Tạo động lực lao động” Theo Bùi Anh Tuấn, Phạm Thúy Hương (2009): “Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm 10 cho người lao động có động lực trong công việc” [21, tr.
Đây là trách nhiệm và mục tiêu của quản lý, tạo động lực trong lao động sẽ giúp cho người lao động có khả năng tăng năng suất lao động cá nhân, kích thích tính sáng tạo của người lao động. Tăng sự gắn bó của người lao động với tổ chức. Đồng thời tạo động lực còn giúp cho tổ chức có một đội ngũ lao động giỏi, tâm huyết với công việc từ đó sẽ góp phần nâng cao hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo Nguyễn Ngọc Quân, Nguyễn Vân Điềm (2012): “Tạo động lực làm việc là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật…nhất định để kích thích người lao động làm việc một cách tự nguyện, hăng say, nhiệt tình và có hiệu quả trong công việc” [17, tr.152] Theo Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2016): “Tạo động lực được hiểu là tất cả các biện pháp của nhà quản lý áp dụng vào người lao động nhằm tạo ra động lực cho người lao động” [13, tr.718] Theo Lê Thanh Hà (2009) đưa ra khái niệm: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách ứng xử của tổ chức, của các nhà quản lý nhằm tạo ra sự khao khát và tự nguyện của người lao động cố gắng phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích vật chất và tinh thần, còn cách ứng xử của tổ chức được thể hiện ở việc tổ chức đó đối với người lao động như thế nào” [12, tr. Đây là khái niệm tác giả sử dụng trong đề tài nghiên cứu. Tác giả cho rằng, tạo động lực cho người lao động phải được thực hiện bằng các biện pháp qua các công cụ vật chất như lương, thưởng, phụ cấp, phúc lợi, … hay các công cụ phi vật chất như tuyển dụng, bố trí, sắp xếp trong công việc, đánh giá thực hiện công việc bảo đảm khách quan, công bằng, chính xác và sự hài lòng của người lao động trong đánh giá, … Những biện pháp này được được các nhà quản lý trong doanh nghiệp thực hiện nhằm tác động tới động lực của người lao động, kích thích họ có động lực làm việc đưa tổ chức hướng tới mục tiêu đã đề ra. Vai trò của tạo động lực cho người lao động trong doanh nghiệp 1.
Đối với người lao động Nhiều nghiên cứu đã nhìn nhận động lực làm việc như một nhân tố thúc đẩy người lao động nỗ lực, vượt qua trở ngại để đạt được mục tiêu của cá nhân và tổ chức. Nghiên cứu của Murphy và Alexander (2000) chỉ ra rằng động lực làm việc giúp thúc đẩy, định hướng và duy trì hành động liên tục của người lao động; đồng thời, đóng vai trò quan trọng trong sự tăng năng suất lao động khi các yếu tố đầu vào khác không thay đổi [8]. Bên cạnh đó, động lực làm việc cũng góp phần định hướng cách ứng xử và mức độ nỗ lực của người lao động trong việc tăng cường hiệu suất công việc. Tạo động lực cho người lao động có vai trò quan trọng trong việc kích thích người lao động làm việc hiệu quả, tích cực, cải thiện năng suất lao động, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động.
Thông qua việc tạo động lực cho NLĐ bằng các công cụ phi vật chất về đào tạo, bồi đưỡng và phát triển năng lực, người lao động sẽ được học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, nâng 11 cao kiến thức của bản thân và hoàn thiện mình, nâng cao giá trị của bản thân NLĐ. Đối với doanh nghiệp Tạo động lực cho người lao động sẽ góp phần tăng mức độ hài lòng, niềm tin, sự gắn bó và tận tụy của người lao động. Cải thiện các mối quan hệ giữa người lao động trong doanh nghiệp, giữa người lao động với doanh nghiệp, xây dựng văn hóa tổ chức lành mạnh, tốt đẹp. Tạo động lực cho người lao động sẽ tạo sự gắn kết giữa người lao động với doanh nghiệp, giữ được người lao động giỏi, thu hút nhân tài, giảm được tỷ lệ nghỉ việc, giảm thời gian, chi phí tuyển dụng và đào tạo người lao động mới, xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Tạo động lực cho người lao động là nền tảng tăng năng suất lao động, thu nhập bình quân của người lao động và các chỉ tiêu kinh doanh, lợi nhuận của doanh nghiệp. Đối với xã hội Nền kinh tế phát triển là tiền đề để xã hội ngày càng văn minh hơn.