phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý thu ngân sách. - Chƣơng 2: Thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. - Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu ngân sách trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Tổng quan tài liệu Về công trình nghiên cứu quản lý thu ngân sách đã có nhiều giáo trình, sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu, bài báo, luận văn thạc sỹ đã công bố.
Trong những năm gần đây có các công trình nghiên cứu tiêu biểu nhƣ: 5 + Lê Văn Ái; TS. Bùi Tiến Hanh (2010), Giáo trình Quản lý thu Ngân sách Nhà nước, Học viện Tài chính. Giáo trình nêu lên khái niệm và phân loại thu Ngân sách nhà nƣớc; những đặc điểm cơ bản của các khoản thu Ngân sách nhà nƣớc; Khái niệm, đặc điểm và các nhân tố ảnh hƣởng đến quản lý thu Ngân sách nhà nƣớc; Khái niệm và đặc điểm của thuế, vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trƣờng, hệ thống chính sách thuế và các tiêu thức thiết lập hệ thống thuế, các yếu tố cấu thành một sắc thuế; hệ thống chính sách thuế hiện hành ở Việt Nam. + Lƣu Hoàng (2017), Đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực hoạt động Kho bạc Nhà nước, Bài báo đƣợc đăng tại Tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 175.
Bài viết đƣa ra một số đề xuất mang tính gợi mở về việc cải cách hiện đại hóa các lĩnh vực hoạt động của hệ thống Kho bạc nhà nƣớc (KBNN), những giải pháp cải cách mạnh mẽ về cơ chế chính sách và quy trình nghiệp vụ theo hƣớng đơn giản, giảm thiểu thủ tục hành chính; đồng thời, triển khai có hiệu quả các ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong các hoạt động nghiệp vụ tại KBNN, hƣớng tới xây dựng Kho bạc điện tử. + Phạm Văn Thành (2011), Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước ở tỉnh Bình Định, Trƣờng Đại học Kinh tế đại học Đà Nẵng. Luận văn đề cập đến những vấn đề lý luận về NSNN và nội dung hoạt động của nó, xem xét khái quát thực trạng về quản lý NSNN tại tỉnh Bình Định, chỉ ra những tồn tại, hạn chế cơ bản của việc quản lý Ngân sách và đƣa ra một số giải pháp nhằm khắc phục và hoàn thiện hơn. Đề xuất giải pháp về đổi mới một các toàn diện và đồng bộ hệ thống tổ chức.
Đẩy mạnh thực hiện xã hội các hoạt động sự nghiệp, từng bƣớc giảm gánh nặng cho ngân sách. Hoàn thiện phân cấp theo hƣớng từng bƣớc xóa dần các khoản thu phân chia 6 tỷ lệ phần trăm (%) huyện, xã nhằm ổn định lâu dài nhƣ nâng tỷ lệ ngân sách xã hƣởng 100% một số khoản thu do xã trực tiếp quản lý. + Hoàng Thị Ánh Tuyết (2014), Hoàn thiện công tác quản lý thu Ngân sách tại thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ, Trƣờng Đại học Thái Nguyên. Luận văn đã nêu lên Ngân sách nhà nƣớc là công cụ tài chính quan trọng để Nhà nƣớc quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa hƣớng tới tăng trƣởng, phát triển và thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá (CNH – HĐH) đất nƣớc.
Tuy nhiên, cho đến nay việc quản lý thu NSNN trên địa bàn cũng còn một số hạn chế, tồn tại đó là: Trong công tác điều hành ngân sách ở một số ngành, địa phƣơng chƣa bám sát dự toán đƣợc giao, việc điều hành, triển khai thu của cơ quan thuế còn chậm, dồn nén vào cuối năm và còn để xảy ra tình trạng không thực hiện đƣợc dự toán trong năm, đặc biệt là một số đơn vị làm hồ sơ hoàn thuế, công tác quản lý thu thuế môn bài đầu năm gặp khó khăn….Những tồn tại, hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhƣng chủ yếu là do hệ thống cơ chế, chính sách và quản lý thu NSNN chƣa hoàn chỉnh, trình độ quản lý của cán bộ ngành tài chính còn nhiều hạn chế bất cập nhất là cán bộ thu thuế cấp cơ sở. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong quản lý thu NSNN nhiều khi chƣa đồng bộ. + Trần Tƣờng Vân (2013), Quản lý Ngân sách nhà nước của quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh”. Luận văn đã nhấn mạnh để hoàn thiện công tác quản lý NSNN có hiệu quả đòi hỏi phải thực hiện tổng hợp các giải pháp.
Sự lãnh đạo chỉ đạo của UBND quận, các cấp, các ngành chức năng, các tổ chức chính trị xã hội từ quận đến phƣờng cần phải quan tâm đúng mức công tác này, coi công tác này là trách nhiệm, là nhiệm vụ trọng tâm của mình chứ không riêng gì các cơ 7 quan tài chính. Do vậy việc nuôi dƣỡng và phát triển các nguồn thu nhằm đảm bảo tiềm lực tài chính đủ mạnh để địa phƣơng có thể chủ động phát triển kinh tế nhanh theo hƣớng bền vững, trong đó chú trọng tập trung phát triển nguồn thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, tăng cƣờng công tác thanh tra, kiểm tra thuế, cƣỡng chế hành chính đối với các đối tƣợng vi phạm trong lĩnh vực thuế. Điều chỉnh hợp lý các khoản chi tiêu Ngân sách nhằm quản lý, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính ngày càng lành mạnh và có hiệu quả hơn. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hoá các hoạt động sự nghiệp nhằm huy động thêm các nguồn lực của các doanh nghiệp tham gia phát triển các dịch vụ trên địa bàn quận.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Khái niệm, đặc điểm ngân sách nhà nƣớc a. Khái niệm ngân sách nhà nước Trong chế độ phong kiến, ngân sách đƣợc xem nhƣ là cái túi của nhà vua, trong đó có các khoản tiền để chi tiêu cho hoàng gia và những khoản tiền đƣợc chi tiêu cho mục đích công cộng nhƣ đắp đê, phòng chống lũ lụt, xây dựng đƣờng xá.Tuy vậy hai khoản chi tiêu này không đƣợc tách biệt nhau.
Vì vậy, giai cấp tƣ sản đòi hỏi hoạt động chi tiêu công của nhà nƣớc phong kiến phải đƣợc công khai, minh bạch, có giới hạn và có tính hợp pháp. Các khoản chi tiêu công phải đƣợc sự giám sát của công chúng đồng thời phải có sự tách bạch giữa chi tiêu của xã hội với chi tiêu cá nhân của nhà vua. Nhƣ vậy có thể thấy thể chế ngân sách ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh giữa giai cấp tƣ sản đối với nhà nƣớc phong kiến. Vào thế kỷ XVII các nƣớc tƣ bản nhƣ Anh, Mỹ, Pháp đã áp dụng thể chế NSNN.
Thể chế NSNN ra đời đã làm thay đổi các phƣơng thức quản lý tài chính của nhà nƣớc, khái niệm NSNN lúc này đƣợc hiểu là phạm trù phản ánh những thể chế đƣợc xã hội thiết lập nhằm mục đích ấn định con số chi tiêu trong một năm, trong đó Nhà nƣớc đƣa ra những quy tắc về kế toán để theo dõi chi tiết, chặt chẽ các khoản chi tiêu của Nhà nƣớc với mục đích là kiểm soát các khoản chi, tránh sự lãng phí. Hay nói cách khác NSNN là các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đƣợc thực hiện trong một niên khoá tài chính, là một đạo luật tài chính, đƣợc Quốc hội quyết định, thông qua. Trong thực tiễn, khái niệm “ngân sách” thƣờng để chỉ tổng số thu và chi của một đơn vị trong một thời gian nhất định; một bản tính toán các chi phí để thực hiện một kế hoạch, hoặc một chƣơng trình cho một mục đích nhất 9 định của một chủ thể nào đó. Nếu chủ thể đó là Nhà nƣớc thì đƣợc gọi là ngân sách nhà nƣớc.
Luật Ngân sách Nhà nƣớc số 83/2015/QH13: "Ngân sách Nhà nước: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [12, điều 4, khoản 14]. Ngân sách nhà nƣớc ở nƣớc ta bao gồm ngân sách trung ƣơng và ngân sách địa phƣơng. Ngân sách địa phƣơng bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND. Theo quy định hiện nay, ngân sách địa phƣơng bao gồm: Ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (gọi chung là ngân sách tỉnh) gồm: ngân sách cấp tỉnh và ngân sách của các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách huyện): gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách các xã, phƣờng, thị trấn; ngân sách các xã, phƣờng, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
Ngân sách Nhà nƣớc cấp quận là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nƣớc đã đƣợc HĐND, UBND cấp quận quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc trên địa bàn quận. Đặc điểm ngân sách nhà nước NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dƣỡng bộ máy Nhà nƣớc, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nƣớc quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau: Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, 10 các chủ thể của nó đƣợc thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan nhƣ hiến pháp, các luật thuế,… nhƣng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ. Thứ hai, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nƣớc và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng.
Nhà nƣớc là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nƣớc giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nƣớc tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nƣớc với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cƣ.