CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm có liên quan 1.1 Khái niệm về động lực làm việc Động lực làm việc là việc những lãnh đạo, quản lý sử dụng các chính sách, chế độ để kích thích, động viên người lao động làm việc hăng say để tăng chất lượng đầu ra và nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. “Động lực là sự khao khát, tự nguyện của mỗi cá nhân được kích thích bởi những công cụ phù hợp trong môi trường tổ chức, doanh nghiệp”. “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao”. “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của con người để nâng cao mọi nỗ lực của mình nhằm đạt được mục tiêu hay kết quả cụ thể nào đó” (Nguyễn Văn Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2007, Giáo trình Quản trị nhân lực, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân).
“Động lực làm việc là những mong muốn, khát khao của người lao động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và tổ chức”. “Theo cách hiểu này, động lực lao động có được không xuất phát từ bất kỳ một sự cưỡng chế nào, nó không phát sinh từ các mệnh lệnh hành chính, nó không biểu hiện qua lời nói mà qua hành động cụ thể, nó xuất phát từ trong nội tâm của người lao động. Động lực bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, các yếu tố này thường xuyên thay đổi, trừu tượng và khó nắm bắt. Có thể kể ra một số nhân tố sau: Nhân tố thuộc về bản thân người lao động, các nhân tố thuộc về công việc, các nhân tố thuộc về tổ chức và môi trường làm việc.
Các nhân tố này rất phức tạp và đa dạng đòi hỏi người quản lý phải biết kết hợp tối ưu các nhân tố thúc đẩy khả năng, phạm 11 vi nguồn lực của tổ chức để vừa đạt được mục tiêu cá nhân người lao động vừa đạt được mục tiêu tổ chức.” “Các tổ chức và doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Điều họ quan tâm là làm sao để những chi phí mình bỏ ra có thể mang lại hiểu quả lớn nhất. Người lao động là tài nguyên của tổ chức đồng thời là một yếu tố rất lớn cấu thành nên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên họ sẽ quan tâm tới việc làm thế nào để người lao động làm việc hăng say, đạt kết quả tốt và làm thế nào để có thể sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức. Như vậy vấn đề tổ chức quan tâm đến là tạo động lực cho người lao động.” Ở luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm: “Động lực lao động là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức”.2 Khái niệm về tạo động lực làm việc cho người lao động “Người lao động đều làm việc bởi họ có thể có được những thứ mà họ cần từ công việc.
Những thứ mà người lao động dành được từ công việc có ảnh hưởng tới tinh thần, nhuệ khí, động lực làm việc và chất lượng cuộc sống của họ. Điều mà nhà quản lý cần làm là sử dụng các biện pháp để thúc đẩy mọi người hăng hái, nhiệt tình và đam mê công việc. Một tổ chức muốn làm việc có hiệu quả và thành công thì cần phải kích thích và thỏa mãn được sự nỗ lực của mọi người để đảm bảo cho việc thực hiện nhiệm vụ tốt nhất, đạt được mục đích cá nhân cũng như mục tiêu của tổ chức.” “Tạo động lực làm việc cho NLĐ là quá trình làm nảy sinh động cơ trong mỗi cá nhân người lao động. Do đó tạo động lực được hiểu là sự vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ xuất hiện động lực trong quá trình làm việc từ đó thúc đẩy họ hài lòng với công việc, mong muốn và nỗ lực làm việc hơn nữa để đóng góp cho tổ chức.
Mục tiêu của tổ chức là làm sao sử dụng có hiệu quả nguồn lực sẵn có của mình để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu phát triển chiến lược của tổ chức. Vì vậy để NLĐ luôn toàn tâm toàn ý trong công việc của tổ chức thì cần có các biện pháp cụ thể, rõ ràng để người lao động yên tâm công tác và cống hiến hết mình vì mục tiêu chung của tổ chức.” 12 “Trong quá trình làm việc tại tổ chức của người lao động, công việc luôn lặp đi lặp lại, lên công việc có của người lao động thường có xu hướng bị nhàm chán. Ngoài ra tâm lý của NLĐ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trong quan hệ công việc và quan hệ xã hội. Vì thế, mà động lực làm việc của họ bị giảm suốt, và cuối cùng họ quyết định rời khỏi tổ chức để tìm kiếm một cơ hội mới cho mình.
Cho nên, các tổ chức cần có các biện pháp kịp thời để kích thích, khuyến khích tinh thần làm việc của người lao động bằng cách tạo ra môi trường làm việc thoải mái để người lao động có thể phát huy tính sáng tạo của mình trong công việc và luôn tạo thử thách trong công việc cho người lao động để họ cảm thấy không bị nhàm chán trong công việc mình làm. Khi người lao động có tinh thần sảng khoải thì công việc thực hiện tốt hơn rất nhiều, từ đó năng suất lao động được tăng lên. Các yếu tố về môi trường làm việc, phong cách lãnh đạo của nhà quản lý cũng là một trong những nhân tố giúp tạo động lực cho nhân viên. Khi họ đạt được thành tích, nhà quản lý phải biết cách khen thưởng, động viên kịp thời.
Việc làm quan trọng này phải được làm thường xuyên, kịp thời thì mới phát huy được hiệu quả của nó. Ngoài ra nhà quản lý cũng nên chú ý đến công nhận và khen thưởng những nhân viên không nằm trong danh sách nhân viên suất sắc, nhưng luôn làm tốt công việc, và gắn bó với công ty. Việc khen thưởng công khai trước mặt mọi người, về những thành tích của người lao động là một trong những cách hiệu quả nhất.” Nhà quản trị muốn nhân viên trong tổ chức của mình nỗ lực hết sức vì tổ chức thì họ phải sử dụng tất cả các biện pháp khuyến khích đối với người lao động, đồng thời tạo mọi điều kiện cho người lao động hoàn thành công việc của họ một cách tốt nhất. Khuyến khích bằng vật chất lẫn tinh thần, tạo ra bầu không khí thi đua trong nhân viên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự phát triển của tổ chức.
“Tạo động lực được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc”. Đây cũng là trách nhiệm và là mục tiêu của quản lý. “Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của doanh nghiệp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài 13 lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và doanh nghiệp”. Khi người lao động cảm thấy sự hấp dẫn trong công việc, họ làm việc một cách tự nguyện, nhiệt tình do đó các nhà quản lý cần quan tâm tạo động lực cho người lao động để hướng hành vi của người lao động theo một chiều hướng quỹ đạo nhất định.
Như vậy, tạo động lực làm việc cho người lao động là quá trình nhà quản lý quan tâm, động viên cả về vật chất và tinh thần của người lao động, để mỗi cá nhân người lao động họ phát huy được tinh thần hăng say trong công việc.2 Các học thuyết về tạo động lực 1.1 Học thuyết nhu cầu Maslow Nhà tâm lý học Maslow đã cho rằng, con người có nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại nhu cầu theo bậc thang từ thấp đến cao như sau: Sơ đồ 1.1 Tháp nhu cầu của Maslow (Nguồn: PGS.TS Lê Thanh Hà, 2012, Giáo trình quản trị nhân lực tập, NXB Lao động xã hội, Hà Nội, trang 158) 14 Nhu cầu sinh lý: Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm, không khí để thở, các nhu cầu làm cho con người tồn tại. Đây là nhu cầu cơ bản nhất, nhưng cũng lại quan trọng nhất, nếu nhu cầu này không được thỏa mãn, thì không thể xuất hiện nhu cầu ở mức cao hơn. Nhu cầu an toàn: Là nhu cầu được ổn định, chắc chắn, cần sự bảo vệ trước những sự đe dọa, mối nguy hiểm về vật chất và tinh thần.
Khi đã đảm bảo được nhu cầu cơ bản thì họ bắt đầu quan tâm đến nhu cầu an toàn. Khi họ cảm thấy an toàn thì họ mới yên tâm công tác và làm việc. Nhu cầu an toàn được đảm bảo, là tiền để cho các nhu cầu khác được thực hiện. Nhu cầu xã hội: Do con người là thành viên của cả xã hội, nên họ cần nằm trong xã hội và được người khác thừa nhận.
Do vậy nhu cầu bạn bè, giao tiếp bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau. Khi các nhu cầu sinh lý và nhu cầu an toàn được thỏa mãn, họ mong muốn có được nhu cầu khác như: Được dư luận xã hội thừa nhận, sự gần gũi, thân cận, tán thưởng, ủng hộ, mong muốn được hòa nhập, lòng thương, tình bạn, tình yêu, tình thân ái. Nhu cầu được tôn trọng: Người lao động cần được tôn trọng về nhân cách, phẩm chất. Trong cuộc sống hay công việc cũng thế, khi được khích lệ, khen thưởng về những thành quả làm việc của mình, bạn cảm thấy được quý mến, nể trọng trong tổ chức, xã hội.
Vì thế, con người thường có mong muốn có được địa vị cao, để được nhiều người tôn trọng và kính nể. Nhu cầu tự hoàn thiện mình: Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong cách phân cấp về nhu cầu của ông. Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu đó.