Chương 1: Cơ sở khoa học pháp lý về bồi dưỡng công chức cấp xã Chương 2: Thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã ở tỉnh Bình Phước giai đoạn 2013 - 2018. Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức cấp xã ở tỉnh Bình Phước hiện nay, tầm nhìn đến năm 2025 10 Chƣơng 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ VỀ BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Công chức và công chức cấp xã - Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng được hiểu không giống nhau. Thậm chí ngay trong phạm vi quốc gia, quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau.
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính định nghĩa Công chức như sau: Người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong cơ quan nhà nước ở trung ương hay địa phương, làm việc thường xuyên, toàn bộ thời gian, được xếp vào ngạch của hệ thống ngạch, bậc được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, có tư cách pháp lý khi thi hành công vụ của nhà nước Theo Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, Công chức năm 2008 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[21, tr4] 11 Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những người đủ các tiêu chí chung của công chức mà được tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì được xác định là công chức. Công chức là những người được tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công hoặc quyền hạn hành chính nhất định được cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trước cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao. Việc quy định công chức trong phạm vi như vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị.
- Theo Khoản 3, Điều 2, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, cấp xã là đơn vị hành chính ở địa phương, là cấp hành chính nhỏ nhất trong 3 cấp chính quyền ở địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã), còn được gọi là xã, phường, thị trấn [22] - Theo khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008, Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [21] Nghị định số 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định “Về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã” cụ thể: Công chức cấp xã có các chức danh sau đây: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng và môi trường 12 (đối với phường hoặc thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1: không quá 25 người; cấp xã loại 2: không quá 23 người; cấp xã loại 3: không quá 21 người. Số lượng cán bộ, công chức cấp xã quy định bao gồm cả công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã. Bồi dƣỡng công chức cấp xã Khái niệm bồi dưỡng được sử dụng khá phổ biến và có nhiều cách hiểu khác nhau.
Với mỗi cách tiếp cận thì bồi dưỡng được hiểu với một nghĩa nhất định. Theo từ điển tiếng Việt: Bồi dưỡng được định nghĩa là làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ; làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất, bồi dưỡng cán bộ trẻ, bồi dưỡng đạo đức.Theo nghĩa này, bồi dưỡng là quá trình tác động đến con người làm cho người đó “Tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”, là quá trình nâng cao trình độ, chuyên môn, kiến thức, kỹ năng đã được đào tạo, bồi dưỡng. Khái niệm bồi dưỡng được tiếp cận với nghĩa là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng. Bồi dưỡng nghĩa là gắn với việc tạo cơ hội để thực hành, rèn luyện kỹ năng (không phải học kỹ năng mà là rèn luyện kỹ năng).
Vì vậy, bồi dưỡng thường không gắn liền với việc thay đổi bằng cấp (học vị) mà người học sẽ nhận được. Theo Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã đưa ra cách hiểu về bồi dưỡng “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc trong quá trình thực thi nhiệm vụ”[12]. Theo cách hiểu này, bồi dưỡng đảm đương 13 nhiệm vụ cập nhật, trang bị thêm kiến thức, kỹ năng, thái độ cho công chức để họ thực hiện tốt hơn, hiệu quả hơn nhiệm vụ được giao. Vậy, Bồi dưỡng là quá trình trang bị cập nhật những kiến thức mới, bổ sung những kiến thức còn thiếu, lạc hậu để nâng cao trình độ năng lực phẩm chất cho người được bồi dưỡng.
Đồng thời củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri thức, kĩ năng chuyên môn nghề nghiệp để hoạt động có hiệu quả hơn. Bồi dưỡng công chức cấp xã là quá trình trang bị kiến thức cơ bản và cập nhật, bổ sung những kiến thức mới cho đội ngũ công chức cấp xã nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực quản lý điều hành và thực thi công vụ, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao, từng bước xây dựng cán bộ, công chức cấp xã có phẩm chất và năng lực. Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ quy định có nhiều hình thức bồi dưỡng như: Bồi dưỡng công chức tập sự, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức; bồi dưỡng theo chức danh; bồi dưỡng theo yêu cầu vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành bắt buộc hàng năm. Quá trình bồi dưỡng được thực hiện trong thời gian ngắn, mục tiêu là đáp ứng ngay nhu cầu cần cập nhật, nâng cao kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản lý cho người học.
Việc bồi dưỡng công chức cấp xã cần phải tính toán cân nhắc nội dung, chương trình bồi dưỡng cho phù hợp, bồi dưỡng có trọng tâm trọng điểm; phù hợp với từng chức danh, vị trí việc làm, quy hoạch, kế hoạch, tiêu chuẩn quy định của công chức cấp xã. Nâng cao chất lƣợng bồi dƣỡng Công chức cấp xã Chất lượng là một phạm trù trừu tượng, nó mang tính chất định tính và khó định lượng, chúng ta không thể cân đo đong đếm được. Dưới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lượng cũng khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, một sự việc” [30, tr.
Đây là cách đánh giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó. Theo một cách hiểu khác thì: Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật.
Chất lượng bồi dưỡng được hiểu là hệ thống đánh giá đối với các tổ chức, các đối tượng cụ thể tham gia hoạt động bồi dưỡng về các tiêu chuẩn quy định nhằm đáp ứng mục tiêu bồi dưỡng của tổ chức. Khoản 2, Điều 2, Thông tư số 10/2017/TT-BNV, ngày 29/12/2017 định nghĩa: “Chất lượng bồi dưỡng là sự hài lòng của các bên liên quan và sự đáp ứng mục tiêu bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức”[5] Các yếu tố cấu thành chất lượng bồi dưỡng bao gồm: Nội dung, chương trình, tài liệu bồi dưỡng; đội ngũ giảng viên; công nghệ đào tạo, bồi dưỡng. Như vậy, nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức cấp xã nghĩa là thực hiện có chất lượng các nội dung, chương trình, tài liệu bồi dưỡng; đội ngũ giảng viên; công nghệ đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã đảm bảo đạt được mục tiêu, yêu cầu và thực tiễn đặt ra nhằm góp phần nâng cao năng lực, kiến thức, kỹ năng thực thi công vụ cho đội ngũ công chức cấp xã. Vị trí, vai trò, tầm quan trọng công tác bồi dƣỡng công chức cấp xã Công chức cấp xã là người trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, phục vụ nhân dân, thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo đúng chính sách và thẩm quyền được UBND cấp xã giao.
Với vị trí là “nền tản cơ sở”, vai trò của công chức cấp xã thể hiện qua bốn mối quan hệ: Với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; với bộ máy chính quyền; với công việc; với quần chúng nhân dân.