Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ QUAN LÝ NHÀ NƯỚC ĐÓI VỚI ĐĂNG KÝ KINH DOANH. ĐĂNG KÝ KINH DOANH - CÔNG CU DE THỰC HIỆN QUYEN TỰ DO KINH DOANH CỦA CÔNG DÂN. Đăng ký kinh doanh là hoạt động được tiến hành bằng việc nhà đầu tư khai báo với cơ quan nhà nước có thầm quyền về dự kiến hoạt động kinh doanh của mình, được Nhà nước thừa nhận bằng hình thức cấp Giấy chứng nhận ĐKKD. Hoạt động sản xuất kinh doanh là yêu cầu thiết yếu của xã hội loài người.
Đối với mỗi quốc gia, hoạt động sản xuất, kinh doanh đóng vai trò quyết định sự phát triển của kinh tế, xã hội. Chính vì lẽ đó, ĐKKD không chỉ được thừa nhận là quyển của mọi nhà đầu tư mà còn được Nhà nước khuyến khích phát triển và bảo hộ. Bất cứ cá nhân, tập thé hay tổ chức nào muốn sản xuất kinh doanh đều có thé đăng ký với Nhà nước. Nha nước đặt ra các cơ quan thực hiện việc ĐKKD cho doanh nghiệp.
Cơ quan ĐKKD luôn tồn tại cùng với những chức năng Nhà nước trao cho, tuy nhiên, hoạt động ĐKKD chi phát sinh khi nhà dau tư có nhu cầu kinh doanh và tiến hành ĐKKD. Điều đó có nghĩa, Nhà nước luôn tạo môi trường, điều kiện cho sự ra đời của doanh nghiệp nhưng quyền chủ động quyết định có tổ chức sản xuất kinh doanh hay không lại thuộc về nhà đầu tư. Khi có nguyện vọng tiến hành sản xuất kinh doanh, tuỳ vào ngành, nghề lựa chọn dé kinh doanh, nhà đâu tư có thể phải chuẩn bị những yêu cầu nhất định mà Nhà nước yêu cầu như: vốn kinh doanh, chứng chỉ hành nghé, giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Những giấy tờ trên đây có thể phải có trước khi đăng ký và chủ yếu được xác nhận bởi các cơ quan chuyên môn, cơ quan quản lý ngành.
Những giấy tờ này có giá trị thâm định, kiểm tra năng lực của nhà đầu tư về khả năng ứng phó của doanh nghiệp trên thương trường trong tương lai. Nếu vốn và những điều kiện khác đáp ứng tiêu chuẩn luật định, doanh nghiệp sẽ được cấp Giấy xác nhận đủ vốn, Giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề, khang định nhà đầu tư đủ điều kiện đáp ứng được yêu câu kinh doanh. Trong khâu ĐKKD, doanh nghiệp cần nộp hồ sơ với đầy đủ giấy tờ hợp lệ, cơ quan ĐKKD thực hiện việc kiểm tra về mặt hình thức và cấp Giấy chứng nhận ĐKKD cho doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là, trước cơ quan ĐKKD, doanh nghiệp tiến hành khai báo để tự khăng định khả năng của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về sự khăng định này.
Từ hoạt động ĐKKD, các doanh nghiệp có điều kiện đê quang bá về mình trong giới doanh nghiệp, sớm tìm được đối tác trong kinh doanh. Thông qua hoạt động ĐKKD, Nhà nước không chỉ thừa nhận mà còn bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, Nhà nước ra đời do yêu cầu cua việc quản lý xã hội, Nha nước không chi đại diện cho lợi ích của Nhà nước, của doanh nghiệp mà còn đại diện cho lợi ích của toàn xã hội. Do đó, dù mở rộng quyền tự do cho doanh nghiệp đến đâu thì doanh nghiệp cũng cần phải ĐKKD để Nhà nước quản lý, theo dõi doanh nghiệp và điều tiết kinh tế, đồng thời xử lý những vi phạm, bảo vệ lợi ích của cộng đồng.
Trong nên kinh tế thị trường, trước yêu cầu vì mục tiêu lợi nhuận tôi đa, không ít các doanh nghiệp đã có hành vi gian lận ngay từ khi mới thành lập, vi phạm quyền và lợi ích của các chủ thê khác. Để quản lý được doanh nghiệp trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý của Nhà nước hiện nay chủ yếu được thực hiện ở giai đoạn sau ĐKKD. Đăng ký kinh doanh là một quyền cơ bản của nhà đầu tư. Trong mọi thời kỳ lịch sử, vẫn đề quyên con người luôn là mối quan tâm của nhân loại.
Quyền tự do của con người là khái niệm mang tính lịch sử, hình thành và phát triển trong cuộc dau tranh giai cấp vì sự tiến bộ xã hội. Quyền tự do của con người luôn gan liền với trình độ phát triển của kinh tế và tiến bộ xã hội, chịu sự chi phối của chế độ kinh tế, chính trị, tập quán dân tộc và các yếu tố khác. Quyên tự do của con người phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân, trong đó quyên con người phải được Nhà nước ghi nhận va bảo đảm băng pháp luật mới trở thành hiện thực. Ở Việt nam, van dé quyền con người luôn được Đảng và Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt.
Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, vẫn đề quyền công dân luôn được ghi nhận trong các bản Hiến pháp từ Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp 1980 và hiện nay là Hiến pháp 1992. Tại Điều 50 Hiến pháp 1992 quy định: "Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính tri, kinh tẾ, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật". Như vậy, quyền của công dân là rất đa dang, liên quan đến mọi mặt của đời sống xã hội. Trong các quyên của con người, quyền tự do kinh doanh, bao hàm cả tự do thành lập doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó chính là quyền tự do trong hoạt động kinh tế, chi phổi sự phát triển của kinh tế và quyết định các hoạt động khác.
Hoạt động kinh doanh được thực hiện nhằm mang lại lợi ích cho cá nhân, tổ chức và xã hội. Chính vì lẽ đó, hầu hết các nước phát triển đều coi việc thành lập doanh nghiệp dé kinh doanh hoàn toàn là quyền của công dân. Quyền tự do thành lập doanh nghiệp được hiểu là quyền của cá nhân hay pháp nhân trong việc tạo lập tư cách pháp lý thông qua thủ tục ĐKKD. Mọi tổ chức, cá nhân, không phân biệt hình thức sở hữu, muốn trở thành nhà kinh doanh hợp pháp đều có thé ĐKKD với Nhà nước dé được thừa nhận và bao hộ.
Không ai có quyền can thiệp, ngăn cản trái phép quyên thành lập và ĐKKD của họ. Sự tham gia của Nhà nước vào khâu thành lập doanh nghiệp thông qua ĐKKD không có gì mâu thuẫn với quyền tự do thành lập doanh nghiệp. Thực chất ĐKKD dé lập ra doanh nghiệp là thủ tục hành chính thông thường nhằm thừa nhận địa vị pháp lý của doanh nghiệp, ghi nhận và bảo vệ quyền của Nhà đầu tư và để duy trì một trật tự trong kinh doanh. ĐKKD không phải là một quá trình xem xét phê chuẩn tính khả thi về tài chính hay lợi ích kinh tế của hoạt động kinh doanh, mà chí một quá trình lập hỗ sơ hay "lưu trữ" các thông tin và văn bản chủ yếu của doanh nghiệp do các đăng ký viên tiền hành.
Nhiệm vụ và quyền hạn duy nhất của họ là xác định tính đầy đủ và hợp lệ về mặt hình thức của các tài liệu và thông tin về nhà đầu tư. Chừng nào hoạt động ĐKKD chưa bị coi là bất hợp pháp thì các tài liệu và thông tin được cung cấp sẽ được coi là day đủ và hợp lệ, các đăng ký viên không được tuỳ tiện từ chối cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho doanh nghiệp. Sau khi cấp giấy chứng nhận ĐKKD cho nhà đầu tư, nhiệm vụ chủ yếu của cơ quan ĐKKD là phải công bố cho công chúng và cơ quan của Chính phủ biết để theo dõi. Với thủ tục ĐKKD đơn giản, thuận tiện nhưng vẫn đảm bảo tính chặt chẽ, nhà đầu tư không phải mất thời gian lo toan nhiều cho việc thành lập doanh nghiệp mà tập trung cho các kế hoạch kinh doanh của mình, đồng thời Nhà nước củng không phải mat thời gian kiểm tra, xác minh tính chính xác của hồ sơ, giấy tờ mà trách nhiệm thuộc về nhà đầu tư, họ khai báo và chịu trách nhiệm về tính trung thực trước Nhà nước trong suốt quá trình tồn tại doanh nghiệp chứ không chỉ chịu trách nhiệm đến thời điểm hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận ĐKKD.
Dé đảm bảo quyên tự do ĐKKD, thành lập doanh nghiệp, Nhà nước phải đáp ứng đồng thời các điều kiện như: - Chit thể có quyên kinh doanh phải mở rộng: - (Cac mô hình doanh nghiệp phải đa dạng, phong phú dé các nhà dau tư có nhiều sụ lựa chọn; - Thu tục thành lập và ĐKKD đơn giản; - Nha nước phải quy định một cách rõ ràng, minh bạch ngành, nghề cấm kinh doanh. ngành, nghề kinh doanh đòi hỏi phải có điều kiện và điều kiện kinh doanh củ: những ngành, nghề đó. Khi đáp ứng được các điều kiện này, cũng có nghĩa Nhà nước đã tạo ra một mô trường thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện đầy đủ quyên tự do lựa chọn về ngànÈ nghé kinh doanh, địa điểm và hình thức tổ chức kinh doanh hợp lý. Điều này cũng chính là sự tôn trọng quyền định đoạt của chủ sở hữu và tạo ra khả năng thuận lợi bar đầu cho sự khởi nghiệp kinh doanh của doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam hiện nay đã xoá bỏ chế độ xin phép thành lập doanh nghiệp tồn tại trong nhiều năm, chỉ thực hiện chế độ ĐKKD, coi việc thành lập và ĐKKD là quyền của công dân, tổ chức. Pharr vi kinh doanh của doanh nghiệp không bị bó hep trong “những ngành, nghề mà Nh: nước cho phép" theo cơ chế "xin" - "cho" mà được mở rộng sang hình thức "được làm những gì mà Nha nước không cắm". Đồng thời, các doanh nghiệp được thành lập thec Luật Doanh nghiệp cũng có nhiều quyền hơn trước đây, phạm vi không chi là 7 quyền như Luật Công ty và Luật DNTN quy định, mà đã mở rộng đến 9 quyên, nội dung của các quyền cũng thể hiện rõ hơn, thay vì doanh nghiệp có quyền "chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh đã đăng ký" (khoản 7 Điều 7 Luật Công ty) thì nay doanh nghiệp có quyền "tự chủ kinh doanh" (khoản 7 Điều 7 Luật Doanh nghiệp), đặc biệt giới hạn các quyền của doanh nghiệp là những quy định mở: "doanh nghiệp có các quyền khác do pháp luật quy định” (khoản 9 Điều 7), đây là những quy định mang tính dự liệu dé mở rộng hơn nữa quyền tu chủ của doanh nghiệp trong tình hình mới.