Phần mở đầu; 3 chƣơng (07 tiết); kết luận và kiến nghị; danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. Luan van 14 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ 1. Những khái niệm cơ bản 1. Đào tạo nghề (dạy nghề) Theo từ điển Tiếng Việt, năm 2007 (Nxb Đà Nẵng): Đào tạo là “làm cho trở thành ngƣời có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định.” Đào tạo là khái niệm có nội hàm rộng, đó chính là huấn luyện, bồi dƣỡng, rèn luyện cho một ngƣời từ chƣa hiểu biết thành hiểu biết, từ chƣa có năng lực làm việc thành có năng lực, từ ngƣời năng lực chƣa hoàn chỉnh thành ngƣời phát triển đầy đủ năng lực, phẩm chất để làm việc.
Khái niệm “đào tạo” nghiên cứu trong luận án này đƣợc hiểu theo phạm vi hẹp hơn, đó là “đào tạo nghề” hay còn gọi là “dạy nghề” và đƣợc quy định tại Luật Giáo dục và Luật Dạy nghề. Theo Luật Giáo dục: Đào tạo nghề là “một bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo nghề là một khái niệm mà phạm trù của nó nằm trong khái niệm đào tạo; đào tạo nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tƣơng xứng với trình độ đào tạo”. Theo Luật Dạy nghề: Đào tạo nghề - dạy nghề là “hoạt động dạy và học nhằm trang bị, kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn tất khóa học”.Bloom (Taxonomy of Educational Objectives) mọi công việc đều đòi hỏi những kiến thức, kỹ năng và thái độ nhất định để có thể thực hiện đƣợc. Do đó, đào tạo nghề phải là quá trình truyền đạt cho ngƣời học những kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết của nghề sẽ đƣợc ngƣời học nghề thực hiện trong tƣơng lai.
Luan van 15 Về lĩnh vực nhận thức, B.Bloom chia thành 6 cấp độ phát triển của kiến thức, nhận thức từ đơn giản nhất đến phức tạp. Sáng tạo Sự sáng tạo trong thực tế Phân Tổng Đánh - Vận dụng vào thực tế, làm chủ tri thức tích hợp giá - Khả năng tổng hợp, khái quát hóa Phân tích - Khả năng phân tích, suy luận h Thể hiện sự hiểu biết qua các tình Áp dụng huống tự nhiên, cụ thể Nắm đƣợc ý nghĩa, bản chất, quy Hiểu luật, đặc tính … Nhớ Chỉ nhớ, nhắc lại các sự kiện, khái niệm, những vấn đề cụ thể Các cấp độ phát triển Những đặc trƣng (Hình 1: Sơ đồ Các cấp độ phát triển của kiến thức – Bloom, 1956) Theo Romiszowski, đào tạo nghề là phải rèn luyện cho ngƣời học cả 3 lĩnh vực: kiến thức, thái độ và kỹ năng làm việc, trong đó: Kiến thức cần thiết có liên quan đến một công việc là những thông tin có ảnh hƣởng trực tiếp đến công việc. Kiến thức là những thông tin chứa trong não. Kiến thức có thể là: sự kiện, khái niệm, nguyên tắc, quy trình, quy định, quy luật, nguyên tắc, quá trình, cấu trúc… Thái độ là những giá trị bên trong, những cảm xúc, niềm tin, động cơ.
Thái độ có các thành phần chủ yếu: kiến thức về chủ đề, cảm xúc về chủ đề, hành động nhằm biểu hiện cảm nhận cá nhân. Thái độ có thể quan sát đƣợc, bao gồm hành vi cá nhân (vẻ bề ngòai, thói quen, sự tôn trọng, sự nhất quán, sự tham gia…), hành vi cƣ xử (lịch sự, cởi mở, hợp tác, trung thực, hòa đồng, hợp tác…) và không quan sát đƣợc, bao gồm tình cảm, niềm tin, giá trị, … Kỹ năng là khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ một công việc. Ngƣời hành nghề cần có những kỹ năng về đối tƣợng lao động, bao gồm kỹ năng nhận thức (sáng tạo, giải quyết vấn đề, phân tích, tổng hợp, ra quyết Luan van 16 định) và kỹ năng tâm vận nghề nghiệp; kỹ năng về sử dụng công cụ lao động, bao gồm kỹ năng sử dụng, kiểm tra, bảo quản; kỹ năng về mối quan hệ trong lao động, bao gồm kỹ năng đàm phán, thuyết phục, giao tiếp, làm việc nhóm, lắng nghe, đàm phán… Theo Tổ chức Lao động thế giới (ILO): Đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho ngƣời học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nghề nghiệp đƣợc giao. Trong quá trình đào tạo cần chú ý đào tạo cả ba lĩnh vực: Kiến thức, kỹ năng, thái độ; đồng thời phải hƣớng dẫn cho ngƣời học khả năng tự tìm việc, tự tạo việc làm và tự trao dồi chuyên môn để có thể thích ứng với sự tiến bộ nhanh của khoa học công nghệ.
Các doanh nghiệp muốn có những công nhân biết thực hiện các kỹ năng cần thiết trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh. Ngƣời công nhân phải có khả năng giải quyết các vấn đề, điều chỉnh đƣợc các quy trình và hợp tác với đồng nghiệp để tìm ra những giải pháp thích hợp. Ngƣời công nhân phải thấy đƣợc mối tƣơng quan giữa mọi kỹ năng với nhiệm vụ, công việc đƣợc giao. Một công nhân nhƣ vậy là phải vừa thành thạo vừa rất tự tin trong công việc.
Theo tác giả Phan Chính Thức, nguyên Tổng cục trƣởng Tổng cục Dạy nghề (Bộ LĐ-TB&XH) thì đào tạo nghề là quá trình phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp và khả năng tìm đƣợc việc làm, tự tạo việc làm [33, tr. Từ các cách tiếp cận trên đây cho thấy, đào tạo nghề là quá trình cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết của một nghề cụ thể và những kỹ năng hội nhập trong môi trường doanh nghiệp để có thể thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc được giao hoặc tự tạo việc làm trong phạm vi nghề nghiệp đó. Theo các quy định hiện hành, đào tạo nghề hiện nay có ba trình độ là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề: Mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp là nhằm trang bị cho ngƣời học năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong Luan van 17 công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Dạy nghề trình độ sơ cấp đƣợc thực hiện từ ba tháng đến dƣới một năm đối với ngƣời có trình độ học vấn, sức khoẻ phù hợp với nghề cần học (trích Điều 10 - 11, Luật Dạy nghề).
Mục tiêu dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho ngƣời học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Dạy nghề trình độ trung cấp đƣợc thực hiện từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với ngƣời có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; từ ba đến bốn năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với ngƣời có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở (trích Điều 17 - 18, Luật Dạy nghề). Mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho ngƣời học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết đƣợc các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. Dạy nghề trình độ cao đẳng đƣợc thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với ngƣời có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với ngƣời có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề cùng ngành nghề đào tạo (trích Điều 24 - 25, Luật Dạy nghề).
Về loại hình đào tạo nghề đƣợc thực hiện bằng 2 loại hình: Dạy nghề chính quy và dạy nghề thƣờng xuyên. Luan van 18 Dạy nghề chính quy: Đƣợc thực hiện với các chƣơng trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các CSDN theo các khóa học tập trung và liên tục. Dạy nghề thường xuyên: Đƣợc thực hiện với các chƣơng trình dạy nghề theo quy định của Luật Dạy nghề. Dạy nghề thƣờng xuyên đƣợc thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm, phƣơng pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của ngƣời học nghề nhằm tạo điều kiện cho ngƣời lao động học suốt đời, nâng cao trình độ kỹ năng nghề thích ứng với yêu cầu của thị trƣờng lao động, tạo cơ hội việc làm, tự tạo việc làm.
Giữa giáo dục hàn lâm và đào tạo nghề có nhiều điểm chung nhƣng cũng có những điểm khác biệt. Giáo dục hàn lâm nhằm mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách, những năng lực rộng; còn đào tạo nghề nhằm mục tiêu hình thành năng lực thực hiện cụ thể và những công việc định hƣớng.Batusep đã viết: “Giáo dục và giáo dục học nghề nghiệp có những khác biệt. Dạy thực hành (dạy sản xuất) trong các trƣờng dạy nghề là một đặc điểm, chính việc dạy thực hành là một bộ phận quan trọng nhất của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp. Giáo dục nghề nghiệp vừa phát triển, song vừa phụ thuộc vào giáo dục hàn lâm trong một mức độ nào đó” [2, tr.
Đào tạo nghề khác với giáo dục hàn lâm ở những điểm chủ yếu sau: Đào tạo nghề gắn chặt với sản xuất, với doanh nghiệp, với việc làm, đặc biệt là trong điều kiện kinh tế thị trƣờng; Là hoạt động đào tạo nghề nghiệp mang tính thực hành kỹ thuật cao, chiếm từ 70% thời gian học trở lên, có những nghề chiếm tới 90 - 100%. Đối tƣợng học nghề: Những ngƣời trƣởng thành, thậm chí đã lớn tuổi. Cơ sở dạy nghề Theo Luật Dạy nghề hiện hành, CSDN bao gồm: Trung tâm dạy nghề; trƣờng trung cấp nghề; trƣờng cao đẳng nghề; trƣờng TCCN, trƣờng cao đẳng, trƣờng ĐH có đăng ký dạy nghề trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề.