CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Lao động nông thôn Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn thường bao quanh các đô thị (thành phố, thị trấn, khu công nghiệp), ở đó hoạt động nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp) đóng vai trò chủ yếu và quan trọng, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và mức sống của người dân thấp. Tuy nhiên, ở nông thôn những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền phong phú.
Như vậy, nông thôn có những đặc trưng sau: - Nông thôn là vùng lãnh thổ sinh sống của cộng đồng dân cư chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn. Sản xuất chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên. - So với đô thị, nông thôn có cơ sở hạ tầng, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn. - Nông thôn là vùng có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật thấp hơn đô thị.
Đời sống vật chất và tinh thần của người dân cũng thấp hơn. Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông 10 thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.
Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn.TS Nguyễn Tiệp (2008): “Lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn bộ những người có khả năng lao động (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người có khả năng tham gia lao động nhưng chưa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn, khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn”. Dựa vào một số khái niệm nêu trên, có thể đưa ra cách tiếp cận khái niệm lao động nông thôn là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động thuộc khu vực nông thôn. Khái niệm nghề Quan niệm về “Nghề” ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhất định. Ở Nga, nghề được hiểu là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn.
Ở Pháp, nghề là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống. Ở Đức được định nghĩa là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó. Ở Việt Nam, nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội.
Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào 11 tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng những nhu cầu của xã hội. Nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cần thiết cho việc tồn tại và phát triển”. Nghề xuất hiện trong xã hội nhằm thỏa mãn nhu cầu làm ăn, sinh sống của con người và đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH theo nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhiều khu vực lãnh thổ và cộng đồng. Những yêu cầu về mặt số lượng, chất lượng của sản phẩm lao động đòi hỏi phải có những kiến thức, kỹ năng, kỹ sảo, kinh nghiệm, thái độ lao động đã buộc con người muốn hoạt động được trong nghề phải được học hỏi, được đào tạo.
Theo từ điển tiếng Việt: “ nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”. Bên cạnh khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể thấy một số nét đặc trưng nhất định: - Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại. - Nghề là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội. - Nghề là phương tiện để sinh sống.
- Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định. Theo giáo trình quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân (2013): “Nghề là tập hợp những công việc tương tự về nội dung và có liên quan với nhau ở mức độ nhất định với những đặc tính vốn có, đòi hỏi người lao động có những hiểu biết đồng bộ về chuyên môn nghiệp vụ, có những kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cần thiết để thực hiện”. Ví dụ các công việc kế 12 toán, kiểm toán đều thuộc nghề Tài chính. Khái niệm đào tạo nghề Theo Trần Xuân Cầu (2021), đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức nhất định về trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động để họ có thể đảm nhận một công việc nhất định.
Hay nói cách khác đó là quá trình truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người lao động có thể thực hiện một công việc nào đó trong tương lai. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, khái niệm “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kỹ năng và thái độ lao động cần thiết để người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hội”. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 thì: “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho lao động nông thôn những kiến thức nhất định về chuyên môn, nghiệp vụ cho lao động nông thôn, để họ có thể đảm nhận được một số công việc nhất định.
Theo Các-Mác, công tác đào tạo nghề phải bao gồm các thành phần: Giáo dục trí tuệ, giáo dục thể lực trong các trường thể dục thể thao hoặc bằng cách huấn luyện quân sự và dạy kỹ thuật nhằm giúp học sinh nắm vững được những nguyên lý cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất, đồng thời biết sản xuất các công cụ đơn giản nhất. Tóm lại, đào tạo nghề là những hoạt động giúp cho người học có được các kiến thức về lý thuyết và kỹ năng thực hành một số nghề nào đó sau một thời gian nhất định, người học có thể đạt được một trình độ để tự hành nghề, tìm việc làm hoặc tiếp tục học tập nâng cao tay nghề theo những chuẩn mực 13 mới. Đào tạo nghề bao gồm quá trình giảng viên truyền dạy những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được trình độ, kỹ năng, kỹ sảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp và quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của lao động nông thôn để đạt được một trình độ nhất định. Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu kinh tế - xã hội, trước hết là phương hướng phân công lao động mới, tạo cơ hội cho mọi người được học tập và định hướng nghề nghiệp để thuận lợi trong việc tìm kiếm việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.
Đào tạo nghề gồm đào tạo nghề dài hạn và đào tạo nghề ngắn hạn. Đào tạo nghề dài hạn được thực hiện dưới hình thức đào tạo mới và đào tạo lại nhằm cung cấp một đội ngũ công nhân kĩ thuật, nhân viên nghiệp vụ lành nghề, đủ khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các phương tiện kĩ thuật và công nghệ hiện đại, đáp ứng nguồn nhân lực có kĩ thuật cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, xuất khẩu lao động. Đào tạo nghề ngắn hạn, dạy nghề tổ chức theo lớp học - vừa học lí thuyết vừa thực hành; dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng hoặc tại nơi sản xuất - chủ yếu rèn luyện kĩ năng thực hành nghề; chuyển giao công nghệ - truyền lại cho người học nghề những công nghệ mới, bí quyết công nghệ được sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh nhằm tạo cơ hội cho người lao động tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn và yêu cầu của doanh nghiệp đối với người lao động 1.
Yêu cầu của doanh nghiệp đối với người lao động nông thôn Ở mỗi vị trí việc làm khác nhau, các doanh nghiệp đặt ra những tiêu chuẩn, yêu cầu khác nhau đối với người lao động, trong đó có lao động nông thôn. Về cơ bản, những yêu cầu của doanh nghiệp gồm các mặt sau: 14 - Yêu cầu về số lượng lao động nông thôn: Mặt này phản ánh số lượng lao động nông thôn được đào tạo hiện nay có đáp ứng được số chỗ vị trí việc làm mà doanh nghiệp đang có nhu cầu tuyển dụng hay không. Hay nói cách khác, số lượng lao động nông thôn chính là cung lao động nông thôn có khả năng và sẵn sàng làm việc so với nhu cầu của doanh nghiệp. Khi đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu về mặt số lượng lao động thường xảy ra các trường hợp sau: (1) Thiếu lao động nông thôn: Số lao động nông thôn hiện có không đáp ứng số chỗ vị trí việc làm mà doanh nghiệp cần có.
(2) Thừa lao động nông thôn: Đây là tình trạng số lao động nông thôn hiện có đang nhiều hơn so với số chỗ vị trí việc làm mà doanh nghiệp cần.