phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về thi đua, khen thƣởng. Chƣơng 2: Thực trạng công tác thi đua, khen thƣởng của Trƣờng Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân. Chƣơng 3: Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng công tác thi đua, khen thƣởng của Trƣờng Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân. 9 Luan van Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THI ĐUA, KHEN THƢỞNG 1.
Khái niệm thi đua, khen thƣởng 1. Khái niệm thi đua C.Ănghen là những ngƣời đầu tiên nghiên cứu một cách khoa học về bản chất và nội dung của thi đua. Ông đã nghiên cứu vấn đề thi đua khi đặt cạnh với cạnh tranh. Mác, gốc rễ của cạnh tranh là chế độ tƣ hữu, còn thi đua xuất hiện tất yếu trong chế độ xã hội chủ nghĩa.
Nếu cạnh tranh là cố gắng dành lấy phần hơn, phần thắng về mình giữa những ngƣời, những tổ chức với nhau nhằm mang lại lợi ích cho riêng mình thì thi đua xuất phát từ lợi ích tập thể, là sự cộng lại sức mạnh lao động của từng cá nhân trong tập thể đó. Kế thừa những tƣ tƣởng, quan điểm của C. Mác – Ănghen, Lênin cho rằng thi đua là một hình thức hợp tác giữa ngƣời với ngƣời nhằm phát triển năng lực của con ngƣời, phát triển tính chủ động, sáng tạo của nhân dân và của chế độ dân chủ trong xã hội mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh là ngƣời vận dụng sáng tạo những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về thi đua, thi đua xã hội chủ nghĩa vào hoàn cảnh nƣớc ta và đã nâng quan điểm về thi đua lên tầm tƣ tƣởng, đƣờng lối chính trị, coi thi đua yêu nƣớc là biểu hiện của lòng yêu nƣớc.
Ngƣời khẳng định “Thi đua là yêu nƣớc, yêu nƣớc thì phải thi đua, những ngƣời thi đua là những ngƣời yêu nƣớc nhất”[31, tr. Ngƣời cho rằng “Thật ra công việc hằng ngày chính là nền tảng thi đua. Thí dụ từ trƣớc đến nay, ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, ở, mặc sao cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm.
Xƣa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm sao cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua nhƣ vậy”[30, tr. 10 Luan van Do vậy, thi đua là hoạt động tự nguyện, có tổ chức diễn ra trong tất cả các tổ chức, các ngành, các cấp, các lĩnh vực đời sống xã hội nhằm làm cho các hoạt động đó, đạt kết quả tốt hơn góp phần xây dựng đất nƣớc vững mạnh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Phân biệt giữa cạnh tranh và thi đua: Sự tƣơng đồng giữa thi đua và cạnh tranh: Thi đua thúc đẩy, khuyến khích cá nhân, tập thể hoạt động đạt kết quả tốt hơn. Cạnh tranh, nhất là cạnh tranh lành mạnh cũng làm cho hoạt động cá nhân và tập thể tốt hơn, song cạnh tranh kiểu này không nhiều.
Khác nhau cơ bản giữa cạnh tranh và thi đua là ở động cơ và mục đích. + Cạnh tranh: Nặng về động cơ vì cá nhân hoặc nhóm ngƣời nhằm chiếm ƣu thế và kết quả vƣợt trội so với cá nhân hoặc nhóm ngƣời khác. + Thi đua: Xuất phát từ động cơ làm cho hoạt động của cá nhân, tập thể đạt kết quả lớn hơn, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. - Mục đích của thi đua: Thi đua nhằm làm cho hoạt động của cá nhân và tập thể đạt kết quả tốt hơn, đơn vị, ngành, địa phƣơng hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao.
Thi đua nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích các cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nƣớc, năng động, sáng tạo, vƣơn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị. - Mục tiêu của thi đua: Mục tiêu của thi đua là nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nƣớc, năng động, sáng tạo vƣơn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ đƣợc giao. Thi đua là quan hệ xã hội, là đòn bẩy của tiến bộ kinh tế, xã hội, đặc biệt là trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay, trƣớc thời cơ và thách thức mới của tình hình quốc tế, khu vực và trong nƣớc, thi đua đƣợc xem là nhiệm vụ quan trọng nhằm phát huy động lực tinh thần và vật chất tạo nên sức mạnh nội sinh, lôi cuốn mọi ngƣời, mọi 11 Luan van nhà, mọi tổ chức xã hội tạo thành phong trào quần chúng rộng khắp, phát huy truyền thống yêu nƣớc, năng động, sáng tạo, vƣơn lên lập thành tích trên mọi lĩnh vực góp phần vào sự nghiệp đổi mới, đƣa nƣớc ta vững bƣớc đi lên chủ nghĩa xã hội. - Nội dung của thi đua: Hoạt động thi đua của nƣớc ta có nhiều nội dung phong phú và đa dạng bao hàm tất cả hoạt động của cá nhân, tập thể trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhƣ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng.
- Nguyên tắc thi đua + Tự nguyện, tự giác, công khai + Đoàn kết, hợp tác và cùng phát triển + Nguyên tắc bình đẳng giới Hình thức thi đua: Hình thức thi đua rất đa dạng, phong phú, gồm các hình thức chủ yếu sau: Thi đua thƣờng xuyên và thi đua theo đợt. + Thi đua thƣờng xuyên: Khái niệm: Là hình thức thi đua căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao của cá nhân, tập thể để tổ chức phát động nhằm thực hiện tốt nhất công việc hàng ngày, hàng tháng, hàng quý, hàng năm của cơ quan, đơn vị. Đối tƣợng thi đua thƣờng xuyên là các cá nhân trong một tập thể, các tập thể tuy cùng một cơ quan, tổ chức đơn vị hoặc giữa các đơn vị có chức năng, nhiệm vụ, tính chất công việc tƣơng đồng nhau. Việc tổ chức phong trào thi đua thƣờng xuyên phải xác định rõ mục đích, yêu cầu, mục tiêu, các chỉ tiêu cụ thể và đƣợc tổ chức tại cơ quan, tổ chức, đơnvị hoặc theo khối, cụm thi đua để phát động phong trào thi đua, ký kết giao ƣớc thi đua.
Kết thúc năm công tác, thủ trƣởng cơ quan, đơn vị, trƣởng các khối, cụm thi đua tiến hành tổng kết và bình xét các danh hiệu thi đua. + Thi đua theo chuyên đề (theo đợt) 12 Luan van Khái niệm: Là hình thức thi đua nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm đƣợc xác định trong khoảng thời gian nhất định hoặc tổ chức thi đua để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đột xuất, cấp bách của cơ quan, đơn vị. Cơ quan, tổ chức chỉ phát động thi đua theo chuyên đề (hoặc theo đợt) khi đã xác định rõ mục đích, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, giải pháp và thời gian. Khái niệm khen thưởng Ở nƣớc ta, khen thƣởng xuất hiện từ các triều đại phong kiến khi các bậc vua chúa sử dụng nó nhƣ một trong những công cụ quản lý và cai trị đất nƣớc có hiệu quả.
Đại Việt sử ký toàn thƣ của Ngô Sỹ Liên đã kể đến nhiều hình thức khen thƣởng trong thời phong kiến nhƣ khen thƣởng ngƣời có công đánh giặc, ngƣời có công trong việc đi sứ, ngƣời phò tá có công lao tài đức, ngƣời tiến cử ngƣời hiền tài, ngƣời hiến kế giúp nhà vua trị nƣớc yên dân, ngƣời cấp dƣới giữ đúng phép công, không vị nể ngƣời quyền quý cấp trên, ngƣời có công làm thủy lợi, ngƣời có tài văn chƣơng, ngƣời cao tuổi…Nhƣ vậy, khen là nhận xét, đánh giá tốt về một con ngƣời nào đó, về cái gì, việc với ý hài lòng; còn thƣởng là tặng tiền hoặc hiện vật để tỏ ý khen ngợi và khuyến khích cá nhân hay tổ chức đã có công hay việc làm xuất sắc. Khen thƣởng là việc ghi nhận, biểu dƣơng, tôn vinh của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với công trạng và thành tích xuất sắc của cá nhân tập thể trong học tập, rèn luyện, lao động, công tác và chiến đấu, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc. - Mục đích của khen thƣởng: Nhằm ghi nhận, tôn vinh, biểu dƣơng thành tích, công lao của cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến trong lao động sản xuất, chiến đấu, học tập và công tác đã nhân ra diện rộng, góp phần giáo dục, động viên thúc đẩy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nƣớc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. 13 Luan van - Nội dung khen thƣởng: Khen thƣởng các cá nhân và tập thể hoạt động trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội có công trạng, thành tích xuất sắc.
+ Căn cứ xét khen thƣởng (Khoản 2, Điều 10 Luật Thi đua khen thƣởng) + Tiêu chuẩn khen thƣởng + Phạm vi, mức độ ảnh hƣởng của thành tích + Trách nhiệm và hoàn cảnh cụ thể lập đƣợc thành tích. - Đối tƣợng khen thƣởng: Theo điều 2, nghị định số 91/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật thi đua khen thƣởng, đối tƣợng khen thƣởng là "Công dân Việt Nam, các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, nghề nghiệp, tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, gia đình, người Việt Nam ở nước ngoài, người nước ngoài, cơ quan, tổ chức nước ngoài và các tổ chức quốc tế ở Việt Nam". - Hình thức khen thƣởng: Lịch sử đã ghi nhận những hình thức khen thƣởng dƣới triều đại phong kiến rất đa dạng nhƣ đƣợc ban họ vua, đƣợc ghi công vào sử sách, đƣợc dựng bản ghi công, đƣợc phong chức, đƣợc thƣởng vàng bạc, đƣợc cấp ruộng đất, truy phong, cấp ruộng cho con cháu thờ cúng… Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định “Thi đua là gieo trồng, khen thƣởng là thu hoạch”[2, tr14]. Vì vậy lúc sinh thời, Ngƣời rất quan tâm đến việc khen thƣởng.
Ngƣời nêu rõ “Thƣởng phạt phải nghiêm minh, có công thì thƣởng, có lỗi thì phạt; có công mới có huân, phải có công huân mới đƣợc thƣởng huân chƣơng, thƣởng cái nào đích đáng cái ấy… khen thƣởng phải có tác dụng động viên, giáo dục, nêu gƣơng”[29, tr. Chính vì vậy ngay sau khi giành đƣợc chính quyền năm 1945, ngày 26/1/1946 Ngƣời đã ký ban hành Quốc lệnh điều thƣởng của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, cụ thể là: 14 Luan van 1. Nhà nào có 3 con tòng quân sẽ đƣợc thƣởng; 2. Ai lập đƣợc quân công sẽ đƣợc thƣởng; 3.
Ai vì nƣớc hy sinh sẽ đƣợc thƣởng; 4. Ai ra trận can đảm phi thƣờng sẽ đƣợc thƣởng; 5.