Tổng quan nghiên cứu

Thị trường công nghệ thông tin tại Việt Nam đang ghi nhận tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc. Năm 2016, tổng doanh thu lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin ước đạt 939.400 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với năm 2015 và đóng góp tới 70,22% tổng doanh thu toàn ngành. Đồng thời, số lượng người dùng Internet tại Việt Nam đã đạt gần 50 triệu người, xếp vị trí thứ 13 trên toàn cầu. Tuy nhiên, sự phát triển nóng này đang đối mặt với bài toán thiếu hụt nguồn nhân lực trầm trọng. Dự báo nhu cầu tuyển dụng tăng trưởng ổn định ở mức 8% mỗi năm, dẫn đến tình trạng thiếu hụt khoảng 78.000 lao động chuyên môn hàng năm và ước tính thiếu hơn 500.000 nhân lực vào năm 2020, tương đương hơn 78% tổng nhu cầu thị trường.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là sự bất cập trong công tác quản lý và phương thức đào tạo, tạo nên khoảng cách lớn giữa chất lượng đầu ra của các trường đại học với yêu cầu thực tế của doanh nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn tập trung vào việc: đánh giá thực trạng quản lý và đào tạo nhân lực ngành công nghệ thông tin; khảo sát chuyên sâu chuyên ngành An toàn thông tin; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp tổng thể và quy trình xây dựng chương trình đào tạo chuẩn hóa theo mô hình CDIO đáp ứng nhu cầu xã hội. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở các chính sách quản lý và chương trình đào tạo đại học chính quy dài hạn tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 đến 2016, định hướng đến năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng khi cung cấp khung tham chiếu khoa học giúp hơn 290 trường đại học và cao đẳng trên toàn quốc nâng cao hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các mô hình lý thuyết và bộ tiêu chuẩn kiểm định giáo dục tiên tiến:

Thứ nhất, mô hình CDIO (Conceive - Design - Implement - Operate) do Viện Công nghệ Massachusetts (MIT) phối hợp với các trường đại học Thụy Điển khởi xướng. Đây là giải pháp tích hợp 12 tiêu chuẩn nhằm xây dựng chuẩn đầu ra khoa học với 4 cấp độ năng lực: Cấp độ 1 gồm 4 khối năng lực cốt lõi (tri thức lý luận, phẩm chất cá nhân, kỹ năng làm việc nhóm, năng lực hình thành và vận hành hệ thống); Cấp độ 2 gồm 19 năng lực cụ thể; Cấp độ 3 gồm 97 tiêu chí chi tiết; Cấp độ 4 cụ thể hóa thành đề cương môn học.

Thứ hai, hệ thống tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học, bao gồm Khung đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Việt Nam VQA 2016 (với 11 tiêu chuẩn và 50 tiêu chí), bộ tiêu chuẩn AUN-QA của Mạng lưới các trường đại học Đông Nam Á, tiêu chuẩn kỹ thuật ABET của Mỹ (đã ký thỏa ước công nhận với 15 quốc gia) và chuẩn EUR-ACE của Châu Âu.

Các khái niệm chính được làm rõ bao gồm: Chất lượng giáo dục đại học, Chuẩn đầu ra (CĐR), Đảm bảo chất lượng giáo dục (Quality Assurance), và Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp theo Thông tư 11/2015/TT-BTTTT gồm 5 lĩnh vực chuyên sâu (cơ sở dữ liệu, hệ thống mạng, quản lý hệ thống, an toàn thông tin, thiết kế và phát triển phần mềm).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp tiếp cận đa chiều nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Kế thừa và phân tích số liệu thống kê từ Báo cáo VN ICT Index 10 năm (2006-2016), Báo cáo thị trường lao động của VietnamWorks, các tài liệu quy hoạch phát triển nhân lực của Bộ Thông tin và Truyền thông, cùng số liệu đội ngũ giảng viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo giai đoạn 2007-2013.
  • Phương pháp phân tích PEST: Đánh giá tác động toàn diện từ 4 nhóm yếu tố môi trường vĩ mô (Chính trị - Pháp lý, Kinh tế, Xã hội, Công nghệ) đến đào tạo nhân lực.
  • Phương pháp điều tra khảo sát và chọn mẫu: Tác giả tiến hành thu thập ý kiến qua phiếu khảo sát với cỡ mẫu hơn 100 đối tượng gồm đại diện doanh nghiệp sử dụng lao động, cựu sinh viên đã đi làm từ 1 đến 6 năm, sinh viên năm cuối và đội ngũ giảng viên tại các cơ sở đào tạo trọng điểm về An toàn thông tin. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được lựa chọn nhằm đảm bảo các bên liên quan đều tham gia đánh giá tính cấp thiết và mức độ kỳ vọng của từng khối kiến thức.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh: Đối sánh chi tiết 123 môn học trong chương trình đào tạo An toàn thông tin tại các trường đại học lớn ở Việt Nam (như Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Công nghệ - ĐHQGHN, Học viện Kỹ thuật Mật mã, Học viện Kỹ thuật Quân sự) với chương trình chuẩn quốc tế ABET của Đại học Quốc gia Singapore (NUS). Timeline nghiên cứu dữ liệu kéo dài trong chu kỳ 5 năm từ 2012 đến 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu lao động ngành công nghệ thông tin phân bổ không đồng đều và thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Tính đến hết năm 2016, tổng số lao động trong ngành công nghiệp CNTT đạt trên 600.000 người, nhưng tập trung chủ yếu ở mảng phần cứng và điện tử (chiếm hơn 300.000 người), trong khi lĩnh vực công nghệ phần mềm và dịch vụ giá trị gia tăng thiếu hụt nghiêm trọng.

Thứ hai, tỷ lệ nhân lực chuyên trách An toàn thông tin (ATTT) ở mức cực kỳ thấp so với quy mô hoạt động. Số liệu thống kê năm 2016 cho thấy:

  • Khối cơ quan nhà nước: Tỷ lệ cán bộ chuyên trách CNTT là 4,6%, nhưng cán bộ chuyên trách ATTT chỉ chiếm 1,0%. Tỷ lệ cán bộ công chức được đào tạo về ATTT chỉ đạt 33,0%, với mức chi ngân sách cho đào tạo CNTT bình quân là 483.353 đồng/người/năm.
  • Khối ngân hàng thương mại: Cán bộ chuyên trách CNTT chiếm 2,6% tổng nhân sự, nhưng cán bộ chuyên trách ATTT chỉ vỏn vẹn 0,1%. Tỷ lệ nhân sự có chứng chỉ quốc tế về CNTT chỉ đạt 16,9%, mức chi đào tạo bình quân là 702.326 đồng/người/năm.
  • Khối tập đoàn kinh tế và tổng công ty: Cán bộ chuyên trách CNTT chiếm 0,4%, cán bộ ATTT chiếm 0,1%, dù tỷ lệ nhân lực có trình độ cao đẳng trở lên đạt tới 99,5%.

Thứ ba, chuẩn đầu ra và chương trình đào tạo tại các trường đại học còn nhiều bất cập. Có đến 60% đơn vị đào tạo xây dựng chuẩn đầu ra mang tính hình thức, thiếu liên kết với doanh nghiệp. Năm 2016 ghi nhận gần 7.000 trang thông tin điện tử tại Việt Nam bị tấn công, nhưng cả nước mới có khoảng 10 cơ sở đại học tuyển sinh đào tạo chính quy ngành ATTT với quy mô chỉ khoảng 50 đến 600 chỉ tiêu mỗi trường mỗi năm.

Thảo luận kết quả

Thực trạng thiếu hụt nhân lực trình độ cao xuất phát từ nguyên nhân cốt lõi là chương trình đào tạo xây dựng tự do, mang nặng tính hàn lâm và thiếu sự thống nhất đồng bộ. Khi so sánh ma trận 123 môn học của các trường trong nước với chuẩn quốc tế NUS, các chương trình đào tạo trong nước tập trung quá nhiều vào kỹ thuật an ninh mạng thuần túy (Network Security), trong khi bỏ qua các phân môn liên ngành quan trọng như: Pháp luật và chính sách ATTT (Cyber Law & Ethics), Khoa học pháp lý số (Digital Forensics), Quản lý rủi ro và An toàn thông tin doanh nghiệp (Risk Management), cùng các kỹ năng mềm thiết yếu.

Để người đọc dễ hình dung, sự mất cân đối này hoàn toàn có thể được mô hình hóa qua biểu đồ cột so sánh tỷ trọng môn học kỹ năng và quản lý (dưới 10% tại Việt Nam so với hơn 25% tại chuẩn quốc tế NUS), kết hợp với bảng đối sánh 4 cấp độ chuẩn đầu ra CDIO. Việc thiếu vắng các chuẩn kỹ năng thực tế theo Thông tư 11/2015/TT-BTTTT khiến sinh viên tốt nghiệp thiếu năng lực thực hành, ngoại ngữ chuyên ngành và khả năng thích ứng với các cuộc tấn công không gian mạng quy mô lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá với lộ trình triển khai rõ ràng:

  1. Áp dụng chuẩn hóa chương trình đào tạo theo mô hình CDIO: Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các trường đại học tái cấu trúc toàn diện chương trình đào tạo CNTT và ATTT theo 12 tiêu chuẩn CDIO. Đơn vị đào tạo cần thiết lập 97 tiêu chí năng lực cấp độ 3 dựa trên khảo sát các bên liên quan, giảm tỷ lệ chuẩn đầu ra hình thức từ 60% xuống dưới 10% trước năm 2020.
  2. Thể chế hóa chuẩn kỹ năng nhân lực theo Thông tư 11/2015/TT-BTTTT: Bộ Thông tin và Truyền thông chủ trì xây dựng hệ thống đánh giá kỹ năng nghề nghiệp quốc gia cho 5 vị trí chuyên trách. Mục tiêu nâng tỷ lệ cán bộ CNTT và ATTT có chứng chỉ chuyên môn quốc tế tại khối ngân hàng và doanh nghiệp từ mức 16,9% lên tối thiểu 40% trong giai đoạn 2018-2020.
  3. Tăng cường liên minh đào tạo giữa Nhà trường và Doanh nghiệp: Khối doanh nghiệp ICT (như Viettel, VNPT, FPT) phối hợp với các cơ sở đào tạo trọng điểm xây dựng phòng lab mô phỏng an ninh mạng, tiếp nhận sinh viên thực tập từ năm thứ 3 và trực tiếp tham gia giảng dạy ít nhất 20% thời lượng chuyên đề thực hành, hướng tới giải quyết bài toán thiếu 78.000 nhân lực mỗi năm.
  4. Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên và chuyên gia nghiên cứu: Đẩy mạnh thực hiện Đề án 911 và Đề án 99 của Chính phủ, cấp học bổng đào tạo tiến sĩ và chứng chỉ chuyên sâu ở nước ngoài cho giảng viên ngành CNTT và ATTT. Phấn đấu nâng quy mô giảng viên có trình độ tiến sĩ toàn quốc từ 8.869 người lên trên 12.000 người vào năm 2020, bảo đảm tỷ lệ sinh viên trên giảng viên đạt chuẩn kiểm định AUN-QA.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Ban giám hiệu và Hội đồng khoa học các trường Đại học, Cao đẳng: Cung cấp phương pháp luận và quy trình 4 cấp độ CDIO để rà soát, đổi mới đề cương môn học, cải tiến chuẩn đầu ra đạt chuẩn kiểm định VQA, AUN-QA và ABET.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ GD&ĐT, Bộ TTTT): Cung cấp số liệu PEST và cơ sở thực tiễn phục vụ việc hoạch định chính sách giáo dục đại học, hoàn thiện khung trình độ quốc gia và triển khai hiệu quả Đề án 99 về phát triển nhân lực ATTT.
  3. Lãnh đạo doanh nghiệp, Giám đốc CNTT (CIO/CTO) và Giám đốc Nhân sự (CHRO): Sử dụng khung 97 tiêu chí kỹ năng để xây dựng tiêu chuẩn tuyển dụng, đánh giá năng lực nhân viên và thiết kế các chương trình đào tạo nội bộ sát với thực tế sản xuất kinh doanh.
  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Hệ thống thông tin, Quản lý giáo dục: Khai thác phương pháp khảo sát đa bên, dữ liệu thứ cấp 10 năm VN ICT Index và ma trận đối sánh 123 môn học để phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phương pháp tiếp cận CDIO lại là giải pháp then chốt cho đổi mới đào tạo CNTT tại Việt Nam? CDIO cung cấp quy trình chuẩn hóa gồm 12 tiêu chí và 4 cấp độ giúp liên kết chặt chẽ chuẩn đầu ra với nhu cầu tuyển dụng. Phương pháp này giải quyết triệt để vấn đề 60% trường đại học có chuẩn đầu ra mang tính hình thức, giúp sinh viên phát triển đồng bộ cả kiến thức chuyên môn lẫn kỹ năng làm việc thực tế.

Thực trạng thiếu hụt nhân lực An toàn thông tin tại Việt Nam nghiêm trọng như thế nào? Số liệu khảo sát cho thấy tỷ lệ cán bộ chuyên trách ATTT cực kỳ mỏng: chỉ chiếm 1,0% ở khối nhà nước, 0,1% ở ngân hàng và 0,1% tại các tập đoàn kinh tế. Trong khi đó, năm 2016 có gần 7.000 cổng thông tin bị tấn công, cho thấy nguy cơ an ninh mạng rất lớn nếu không bổ sung kịp thời đội ngũ chuyên trách.

Thông tư 11/2015/TT-BTTTT có vai trò gì trong việc chuẩn hóa chương trình đào tạo? Thông tư 11 quy định Chuẩn kỹ năng nhân lực CNTT chuyên nghiệp cho 5 nhóm lĩnh vực cốt lõi. Đây là khung tham chiếu kỹ năng chuẩn quốc gia giúp các cơ sở giáo dục đại học điều chỉnh mục tiêu môn học, xóa bỏ sự phát triển chương trình tự phát và đáp ứng chính xác vị trí việc làm ngoài thị trường.

Sự khác biệt lớn nhất giữa chương trình đào tạo An toàn thông tin tại Việt Nam và chuẩn quốc tế là gì? Qua so sánh 123 môn học với Đại học Quốc gia Singapore (NUS), chương trình quốc tế tích hợp sâu các môn về chính sách pháp lý số, quản lý rủi ro doanh nghiệp và đạo đức nghề nghiệp. Ngược lại, các trường trong nước chủ yếu tập trung vào an ninh mạng thuần túy và thiếu hụt các môn quản trị an toàn hệ thống.

Làm thế nào để tăng cường sự gắn kết giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo? Luận văn đề xuất thể chế hóa trách nhiệm của doanh nghiệp thông qua cơ chế đặt hàng đào tạo, tham gia góp ý 97 tiêu chí chuẩn đầu ra cấp độ 3, tài trợ phòng thí nghiệm bảo mật và trực tiếp tham gia giảng dạy ít nhất 20% thời lượng chuyên đề thực tế cho sinh viên.

Kết luận

  • Công trình đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý chất lượng giáo dục đại học, đối sánh các chuẩn kiểm định VQA, AUN-QA, ABET và mô hình CDIO.
  • Phân tích bức tranh thực trạng ngành CNTT Việt Nam, chỉ rõ nguy cơ thiếu hụt hơn 500.000 nhân sự vào năm 2020 và tình trạng báo động về nhân lực An toàn thông tin (chỉ chiếm 0,1% đến 1,0% tại các đơn vị).
  • Xác định nguyên nhân gốc rễ nằm ở sự thiếu đồng bộ chính sách và 60% chuẩn đầu ra mang tính hình thức, thiếu sự tham gia của doanh nghiệp.
  • Xây dựng thành công khung chương trình đào tạo ngành An toàn thông tin mẫu theo 4 cấp độ CDIO và ma trận so sánh 123 môn học đạt chuẩn quốc tế.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên ngành đồng bộ cho giai đoạn 2017-2020, kết nối chặt chẽ giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp một quy trình thực thi CDIO tường minh, giúp các trường đại học chuyển hóa các tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp thành đề cương môn học chi tiết. Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực số quốc gia, các cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp công nghệ cần nhanh chóng áp dụng khung giải pháp này ngay từ hôm nay. Quý bạn đọc và các đơn vị đào tạo quan tâm có thể liên hệ trực tiếp với cơ sở đào tạo để trao đổi, chuyển giao mô hình nghiên cứu.