đặt vấn đề các đối tượng địa lý của địa danh phải “có vị trí xác định trên bề mặt trái đất”. Về đối tượng, sự vật được gọi tên, cần lưu ý đến một đặc điểm tuy rất hiển nhiên là chúng có một vị trí cố định hay xác định nhưng không ở ngoài trái đất, theo A. Superanskaja thì “tính định vị của địa danh nói lên rằng, lãnh thổ là chu cảnh thực tế của chúng”. Đặc điểm này giúp chúng ta loại trừ những tên gọi không phải địa danh, tuy nhiên cũng cần xem xét lại vấn đề này vì trong thực tế, nhiều nơi trên trái đất có cùng một địa danh.
Theo chúng tôi, địa danh dù xem xét ở góc độ nào thì cũng là một sản phẩm do con người tạo ra như Trần Ngọc Thêm đã cho rằng: “các đối tượng tự nhiên hay nhân tạo đều mang dấu ấn của con người. Sự tác động của con người đối với tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng để chế tạo đồ dùng, đẽo tạc tượng) hoặc mang tính tinh thần (như việc đặt tên tạo truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên: vịnh Hạ Long, núi Ngũ Hành, hòn Vọng Phu…)” [2001a: 23]. Như vậy, có thể hiểu địa danh là tên gọi các đối tượng địa lý tự nhiên hay nhân tạo do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Đây là đối tượng khảo cứu của chúng tôi trong luận văn này.
Đối tượng nghiên cứu của địa danh học Địa danh học là một ngành của ngôn ngữ học, chuyên nghiên cứu ý nghĩa, nguồn gốc và những biến đổi của địa danh. Bên cạnh đó, nghiên cứu địa danh học còn cần phải chỉ ra được các phương thức đặt địa danh và phân tích cách cấu tạo địa danh, phát hiện những nguyên nhân chi phối sự ra đời, hành chức và tiêu vong của địa danh. Như vậy, đối tượng của địa danh học chính là địa danh. Như đã trình bày ở trên, địa danh bao gồm các đối tượng tự nhiên và các đối tượng nhân tạo.
Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý là đối với những tên đình, chùa, miếu, miễu, nhà thờ, nhà hát, công ty, trường học, cơ quan, viện, khách sạn…chúng ta có nên xem là địa danh hay không? Một số tác giả cho là có (như các tác giả trong Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng, Từ điển Hà Nội – Địa danh) nhưng phần lớn, nhiều nhà nghiên cứu lại không đồng tình với quan điểm này. Thực ra, ngành từ vựng học có một ngành nhỏ là danh xưng học (onomasiologie) chuyên nghiên cứu tên riêng chia ra ba nhánh nhỏ là nhân danh học, hiệu danh học và địa danh học. Trong đó, nhân danh học chuyên nghiên cứu tên riêng của con người gồm họ, tên chính, tên đệm, tự, hiệu, bút danh…Còn hiệu danh học chuyên nghiên cứu các thiên thể, nhãn hiệu, biển hiệu, tổ chức…Địa danh học cũng nghiên cứu tên riêng nhưng liên quan đến một vùng lãnh thổ nhất định và có tính bền vững. Như đã nói ở trên, địa danh học chuyên nghiên cứu về nguồn gốc, ý nghĩa và những chuyển biến của địa danh; tức là lấy những từ, ngữ được dùng để đặt tên riêng của địa hình thiên nhiên, các đơn vị hành chính, các công trình xây dựng, các vùng lãnh thổ về không gian hai chiều làm đối tượng nghiên cứu.
Điều này có nghĩa là giữa địa danh học và hiệu danh học có đối tượng nghiên cứu khác nhau. Vì vậy, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả Lê Trung Hoa rằng “Tên các công trình thiên về không gian hai chiều là địa danh (như tên cầu, đường, công viên…), còn tên các công trình thiên về không gian ba chiều (như tên chùa, nhà thờ, trường học, cơ quan…) là hiệu danh” [2000a: 14-15]. Phân loại địa danh Phân loại địa danh là vấn đề phức tạp. Hiện nay, vẫn chưa có mô hình phân loại khái quát tối ưu nào để có thể dùng chung, phổ biến cho mọi công trình nghiên cứu với những cách tiếp cận, những quan điểm nghiên cứu khác nhau mà người ta thường chỉ quan tâm đến một loại đối tượng cụ thể theo hướng khai thác của từng cá nhân.
Do đó, việc hệ thống hóa các cách phân loại đã có sẽ đưa đến cho người nghiên cứu địa danh có được cách phân loại phù hợp với nội dung và phương pháp làm việc. Mặc dù mỗi nhà nghiên cứu đều tìm cho mình một hướng đi riêng, song chung quy lại có những cách phân loại sau: Theo Lê Trung Hoa và Nguyễn Kiên Trường thì các nhà địa danh học người Pháp thường trình bày địa danh theo lớp ngữ nguyên hoặc đối tượng phản ánh. Dauzat trong La toponymie franscaise nghiên cứu địa danh theo 4 nhóm ngữ nguyên: 1.Vấn đề cơ sở tiền Ấn – Âu; 2.Các danh từ tiền Latinh về nước trong thủy danh học; 3.Các từ nguyên Gôloa – La Mã; 4.Địa danh học Gôloa – La Mã của vùng Auvergne và Velay. Rostaing trong Les noms de lieux lại lấy tiêu chí của sự kết hợp giữa nguồn gốc ngôn ngữ và đối tượng địa lý để nghiên cứu, bao gồm các vấn đề: 1.Những cơ sở tiền đề Ấn – Âu; 2.Các lớp tiền Xên tích; 3.Những phạm vi Gôloa – La Mã; 5.Các sự hình thành La Mã; 6.Những đóng góp của tiếng Giéc-manh; 7.Các hình thức của thời phong kiến; 8.Những danh từ có nguồn gốc tôn giáo; 9.Những hình thái hiện đại; 10.Các địa danh và tên đường phố; 11.Tên sông và tên núi.
Có thể thấy cách phân chia thành 11 vấn đề trên còn thiếu tính hệ thống, bởi chưa xác định rõ ràng về tiêu chí phân loại. Một số nhà nghiên cứu địa danh Xô Viết lại đưa ra cách phân loại địa danh theo nội dung biểu thị. V Gorbanevskij chia địa danh thành 4 loại: 1.Phương danh (tên địa phương); 2.Superanskaja lại chia địa danh thành 7 loại: 1.Phương danh; 2. Hai cách phân loại của tác giả trên đã đưa ra được những nhóm địa danh cơ bản nhất nhưng vẫn thiếu tính khái quát.
Khi quan sát hai bảng phân loại trên đây, Lê Trung Hoa cho rằng “chưa bao trùm được tên các công trình xây dựng ở nông thôn (như cầu, cống, sân vận động…) và trong phương danh chưa tách bạch giữa địa danh hành chính và địa danh chỉ một vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng” [2003a: 23]. Ở Việt Nam, nhà nghiên cứu Trần Thanh Tâm trong công trình Thử bàn về địa danh Việt Nam chia địa danh Việt Nam thành 6 loại: 1.Loại đặt theo địa hình và đặc điểm; 2.Loại đặt theo vị trí không gian và thời gian; 3.Loại đặt theo tín ngưỡng, tôn giáo, lịch sử; 4.Loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu; 5.Loại đặt theo đặc sản, nghề nghiệp và tổ chức kinh tế; 6.Loại đặt theo sinh hoạt xã hội. Nguyễn Văn Âu, trong tác phẩm Một số vấn đề về địa danh Việt Nam [2000: 38-40], đã phân loại địa danh theo 3 cấp: loại, kiểu và dạng. Theo đó, loại địa danh bao gồm 2 loại là: địa danh tự nhiên và địa danh kinh tế - xã hội.
Kiểu địa danh gồm 7 kiểu: 1.Tỉnh, thành phố; 7. Dạng địa danh gồm 12 dạng: 1. Nhìn chung, cách phân loại của hai tác giả trên khá phức tạp và còn hạn chế. Trong tác phẩm Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (Địa danh thành phố Hồ Chí Minh), tác giả Lê Trung Hoa đã nêu ra hai tiêu chí để phân loại: Theo đối tượng, căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, tác giả chia địa danh thành 2 nhóm lớn: Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên; Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo.
* Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên bao gồm tên các địa hình núi, đồi, gò, sông, rạch. Thí dụ: sông Tiền, rạch Ba Rài… * Địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo có thể chia làm 3 loại nhỏ: - Địa danh chỉ các công trình xây dựng thiên về không gian hai chiều như tên cầu, cống, chợ, đường phố, công viên…Thí dụ: cầu Quay, cống Huế, chợ Giữa… - Địa danh chỉ các đơn vị hành chính như tên ấp, xã, phường, huyện, quận…Thí dụ: ấp Bắc, xã Tân Phú (CL), huyện Cai Lậy… - Địa danh chỉ các vùng lãnh thổ không có ranh giới rõ ràng như xóm Dừa (GCT)… Theo ngữ nguyên, tác giả chia địa danh Việt Nam thành 4 nhóm lớn: - Địa danh thuần Việt - Địa danh Hán Việt - Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số như Chăm, Khơme, Ba Na, Ê Đê, Gia Rai, Tày, Thái, Mường… - Địa danh bằng các ngoại ngữ chủ yếu là địa danh gốc Pháp, một số là địa danh Inđônesia, Malaysia…[2003: 17-21]. Nguyễn Kiên Trường trong luận án Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng đã đưa ra ba tiêu chí và phân loại địa danh như sau: - Tiêu chí 1: Dựa vào thuộc tính đối tượng, tác giả chia làm 2 nhóm: + Nhóm địa danh chỉ đối tượng tự nhiên + Nhóm địa danh chỉ đối tượng địa lý nhân văn - Tiêu chí 2: Căn cứ vào nguồn gốc ngữ nguyên, có thể phân chia thành 7 nhóm: + Địa danh Hán Việt + Địa danh thuần Việt + Địa danh có nguồn gốc tiếng Pháp + Địa danh có nguồn gốc Tày-Thái, Việt-Mường, Môn-Khơme, Chăm + Đại danh có nguồn gốc hỗn hợp + Địa danh chưa xác định được nguồn gốc + Địa danh có nguồn gốc phương ngữ Quảng Đông - Tiêu chí 3: Căn cứ vào chức năng giao tiếp, tác giả chia làm 4 loại: + Địa danh có tên gọi chính thức do nhà nước đặt và có trong các văn bản hành chính + Loại địa danh theo cách gọi dân gian + Loại địa danh là những tên cũ, cổ + Loại địa danh tên khác [1996: 45-50] Có thể thấy, tác giả Nguyễn Kiên Trường rất quan tâm đến chức năng giao tiếp nên đã đưa thêm cách phân loại theo chức năng này. Cách phân loại của tác giả rất cụ thể, chi tiết và có tính khoa học.
Trong tác phẩm Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ qua chuyện tích và giả thuyết, tác giả Nguyễn Hữu Hiếu đã phân loại địa danh theo dạng cấu trúc, địa danh có cấu trúc thông thường và địa danh có cấu trúc đặc biệt. - Địa danh có cấu trúc thông thường được chia làm 4 nhóm: + Địa danh chỉ địa thế tự nhiên hoặc nhân tạo + Địa danh chỉ công trình xây dựng + Địa danh hành chính + Địa danh chỉ vùng - Địa danh có cấu trúc đặc biệt được tác giả tập trung đi phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra cách hiểu hợp lí cho những địa danh có yếu tố “cái” [2004: 24-36]. Có thể thấy, các cách phân loại địa danh phụ thuộc vào mục đích và phương pháp tiếp cận của các nhà nghiên cứu.