Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học của tác giả Vi Hồng Bình (Wei Hong Ping) tập trung nghiên cứu đối chiếu hệ thống địa danh của ba dân tộc xuyên biên giới Việt Nam – Trung Quốc gồm Choang, Tày và Nùng. Về mặt phân loại ngôn ngữ học, tiếng Choang, tiếng Tày và tiếng Nùng là các ngôn ngữ có cùng họ, thuộc tiểu nhóm Tày Choang, nhánh Tày - Thái trong ngữ hệ Thái - Kađai. Trong quá trình lịch sử, do cư trú ở hai quốc gia khác nhau với các điều kiện phát triển xã hội và văn hóa chủ thể riêng biệt, các cộng đồng này đã có những bước phân hóa và biến đổi độc lập. Địa danh học là một hiện tượng ngôn ngữ phản ánh quy luật diễn biến ngôn ngữ, đặc trưng địa văn hóa và lịch sử tộc người. Trước khi luận án được thực hiện, các công trình học thuật về địa danh Choang ở Trung Quốc và địa danh Tày - Nùng ở Việt Nam phần lớn chỉ tiếp cận đơn lẻ theo từng vùng lãnh thổ hoặc thiên về khảo cứu lịch sử văn hóa thuần túy; chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống và so sánh đối chiếu toàn diện giữa địa danh Choang và địa danh Tày - Nùng dưới góc độ ngôn ngữ học. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm làm rõ bức tranh địa văn hóa và mối quan hệ cội nguồn của khu vực.

Mục đích chính của luận án là nghiên cứu hệ thống địa danh gốc Choang tại thành phố Sùng Tả thuộc Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (Trung Quốc) trong sự liên hệ, đối chiếu với hệ thống địa danh Tày - Nùng tại tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam); làm rõ các đặc điểm về hình thức cấu tạo, phương thức định danh, tìm ra sự tương đồng, dị biệt cũng như nguyên nhân dẫn đến các diễn biến đó.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba nhiệm vụ cụ thể:

  1. Trình bày tổng quan lịch sử nghiên cứu địa danh và cơ sở lý thuyết địa danh học; khái quát các đặc điểm địa lý, tự nhiên, dân cư, lịch sử và cảnh huống ngôn ngữ của địa bàn thành phố Sùng Tả (Trung Quốc) và tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam).
  2. Tiến hành điền dã thực tế, thu thập, thống kê, miêu tả và phân tích cứ liệu nhằm xác định các đặc điểm cấu tạo của địa danh Choang ở Sùng Tả, đồng thời so sánh đối chiếu với mô hình cấu tạo của địa danh Tày - Nùng ở Lạng Sơn.
  3. Phân tích đặc điểm ngữ nghĩa, phân loại các phương thức định danh địa danh Choang ở Sùng Tả trong sự liên hệ với địa danh Tày - Nùng ở Lạng Sơn; làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa cũng như dấu ấn tiếp xúc ngôn ngữ phản ánh qua địa danh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lớp địa danh gốc Choang ở thành phố Sùng Tả và lớp địa danh gốc Tày - Nùng ở tỉnh Lạng Sơn.
  • Phạm vi không gian: Tại thành phố Sùng Tả, luận án tập trung khảo sát các vùng nông thôn còn bảo lưu tiếng Choang thuộc 4 huyện và thành phố cấp huyện giáp biên giới với Việt Nam gồm Đại Tân, Long Châu, Bằng Tường và Ninh Minh. Tại Việt Nam, phạm vi khảo sát là địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
  • Phạm vi tư liệu: Tổng số địa danh được thu thập và phân tích trực tiếp trong luận án là 1.522 địa danh, bao gồm 1.147 địa danh Choang tại Sùng Tả và 375 địa danh Tày - Nùng tại Lạng Sơn (được lập danh mục chi tiết trong phần phụ lục).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu địa danh học trên thế giới, tại Trung Quốc và tại Việt Nam theo các giai đoạn phát triển và khuynh hướng tiếp cận:

  1. Nghiên cứu địa danh học trên thế giới: Địa danh học (toponymy) bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Hy Lạp (tópos: nơi chốn, ónoma: tên gọi), là một nhánh của danh xưng học (onomastics). Giai đoạn đầu (thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX), nghiên cứu địa danh tập trung vào việc giải thích nguồn gốc tên gọi địa phương gắn với lịch sử văn hóa, tiêu biểu như Địa danh ký (1803) của Utiyama Sinnryuu và Địa danh Vương triều Owari của Tsuda Masao tại Nhật Bản. Bước sang thế kỷ XX, địa danh học phát triển thành ngành khoa học liên ngành. Tại Anh, A. Mawer thành lập Hiệp hội Địa danh học năm 1923 và xuất bản Vấn đề địa danh học; F. M. Powicke nghiên cứu mối liên hệ giữa địa danh, khảo cổ và di dân. Tại Pháp, J. Gillieron công bố Tập bản đồ ngôn ngữ Pháp; A. Dauzat xuất bản Nguồn gốc và diễn tiến của địa danh; A. Longnon xuất bản Địa danh nước Pháp đặt nền móng cho việc xác lập địa danh học thành ngành khoa học độc lập; tiếp nối có các công trình của A. Vincent và E. Negre. Tại Nhật Bản, Kagami Kanji áp dụng ngôn ngữ địa lý học trong Địa danh học Nhật Bản; Yamaguchi Keiichirou công bố Lý luận địa danh (1984); Kagami Akira xuất bản Nhập môn địa danh học (1984). Tại Mỹ, Ủy ban Địa danh thành lập năm 1930, Hiệp hội chuyên về tên gọi thành lập năm 1952 và xuất bản tạp chí Names từ năm 1953. Năm 1960, Tổ chuyên gia Địa danh Liên Hợp Quốc được thành lập, thúc đẩy công tác chuẩn hóa địa danh quốc tế.

  2. Nghiên cứu địa danh ở Trung Quốc:

  • Thời kỳ cổ đại: Thuật ngữ "địa danh" xuất hiện sớm trong Chu lễ; các tác phẩm Sơn hải kinh, Vũ cống (ghi nhận khoảng 1.100 địa danh) và Thủy kinh chú (ghi nhận hơn 20.000 địa danh, có 2.400 mục giải thích nguồn gốc) chủ yếu ghi chép và khảo chứng cội nguồn.
  • Thời kỳ cận đại: Các công trình của Dương Thủ Kính (Thủy kinh chú đồ, Lịch đại dư địa đồ); Đinh Văn Giang và Tăng Thế Anh xuất bản Bản đồ mới Trung Hoa Dân Quốc; sự ra đời của Trung Quốc địa danh đại từ điển và Trung Quốc cổ kim địa danh đại từ điển (hơn 40.000 địa danh); các công trình lý luận của Cát Tuy Thành, Kim Tổ Mạnh và đề xuất của Tăng Thế Anh (1960) về việc xây dựng địa danh học thành môn khoa học độc lập.
  • Giai đoạn hiện đại: Năm 1977, Ủy ban Địa danh Trung Quốc được thành lập; giai đoạn 1979–1996 thực hiện cuộc tổng điều tra địa danh toàn quốc với hơn 5,5 triệu địa danh. Các công trình tiêu biểu gồm: Chu Chấn Hạc và Du Nhữ Kiệt với Tìm hiểu địa danh cổ Việt (1984) và Phương ngôn và văn hóa Trung Quốc (1986); Ngưu Nhữ Thần với Văn hóa địa danh Trung Quốc (1993); Hoàng Gia Giáo với Nghiên cứu và ứng dụng của địa danh (1990); Chư Á Bình với Trình bày và phân tích địa danh học; cùng các bộ sách quy mô do Sở Nghiên cứu Địa danh Trung Quốc biên tập như Đại từ điển địa danh xưa nay Trung Quốc và bộ sách Kho sách nghiên cứu tiêu chuẩn hóa địa danh Trung Quốc.
  1. Nghiên cứu địa danh Choang ở Trung Quốc:
  • Tiếp cận lịch sử văn hóa: Ghi chép từ thời Thanh của Khuất Đại Quân trong Quảng Đông tân ngữ (nêu rõ các địa danh mang yếu tố Na, La, Đa, Phù, Qua, Nha, Nga, Đà, Đả); Chu Chấn Hạc và Du Nhữ Kiệt khảo sát địa danh Bách Việt kiểu đặt trước ("Cô Tô"); Lý Như Long nghiên cứu địa danh Choang ở Phúc Kiến; Lý Cầm Phương nghiên cứu nội hàm văn hóa địa danh Bách Việt; Trình Trương Thượng Phương, La Ngọc Lan; công trình Tuyển tập Địa danh tiếng Choang Quảng Tây (1988) thu thập 5.500 địa danh.
  • Tiếp cận ngôn ngữ học văn hóa và so sánh lịch sử: La Thường Bồi (Ngôn ngữ và Văn hóa); Trương Tuệ Anh (Ngôn ngữ và Văn hóa danh xưng); Vi Thụ Quan (nghiên cứu yếu tố Khư, Hư / Haw, Faw); Vi Đặt; Lữ Tung Tùng; Dương Bôn, Hoàng Ngọc, Lý Bình; Tống Trường Đống; Phòng Anh và Pranee; Đàm Phượng Dư và Lâm Dịch với công trình Ngôn ngữ và Văn hóa của Địa danh Choang (1996) nghiên cứu địa danh tại 24 huyện, thị xã thuộc Quảng Tây.
  • Tiếp cận liên ngành: Từ Tùng Thạch với Lịch sử nhân dân lưu vực Việt Giang (thập niên 1930) và Khảo sát về Người Thái, Người Choang, Người Việt và Lịch sử Nhân dân Lưu vực sông Việt Giang (thập niên 1960) xác định đặc trưng địa danh "kiểu tế đầu" (Na, Bản, Bách, Đô); Phạm Hồng Quý (Dân tộc cùng gốc - Văn hóa và Nguồn gốc các dân tộc Choang Thái) khảo sát các yếu tố Bảng, Na, Lộng, Long, Lông, Đồng, Nam, Niệm, Bố, Bạch, Bắc, Mang, Mạnh, Mãnh, Xuyên; Phan Kỳ Húc so sánh địa danh "Na" và văn hóa canh tác lúa nước; Lưu Hướng Trinh; Trương Huệ Vinh.
  1. Nghiên cứu địa danh ở Việt Nam và địa danh Tày - Nùng:
  • Thư tịch cổ và địa chí truyền thống: Lê Tắc (An Nam chí lược, 1333), Nguyễn Trãi (Dư địa chí, 1435), Ngô Sĩ Liên (Đại Việt sử ký toàn thư, 1479), Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí, 1821), Ngô Thì Sĩ (An Nam nhất thống chí), Lê Quang Định (Đại Việt nhất thống dư địa chí, 1807), Nguyễn Văn Siêu (Đại Việt dư địa toàn biên, 1833), Lê Chất (Bắc thành địa dư chí), Trịnh Hoài Đức (Gia Định thành thông chí), Cao Xuân Dục và các tác giả (Đại Nam nhất thống chí, 1882), Dương Thị The và Phạm Thị Thoa (Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ 19, 1981).
  • Tiếp cận lịch sử văn hóa: Đào Duy Anh (1964), Thái Hoàng (1982), Đinh Văn Nhật (1984), Nguyễn Văn Âu (2000), Nguyễn Đình Chúc (2001), Vũ Ngọc Khánh (2008), Nguyễn Tọa (2010), Trần Gia Linh (2010).
  • Tiếp cận ngôn ngữ học và liên ngành: Hoàng Thị Châu (1965) với nghiên cứu tên sông cổ Đông Nam Á; Trần Thanh Tâm (1976); Lê Trung Hoa (Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh, 1991; Địa danh học Việt Nam, 2006); Nguyễn Kiên Trường (1996); Nguyễn Nhã Bản (1999); Hoàng Tất Thắng (2003); Từ Thu Mai (2004); Nguyễn Thanh Lợi (2005); Trần Văn Dũng (2005); Trần Trí Dõi với chuỗi bài viết nghiên cứu địa danh Cửa Lò, Cổ Loa, sông Hồng và chuẩn hóa địa danh (2000, 2001, 2005, 2008).
  • Về địa danh Tày - Nùng: Trần Quốc Vượng (Việt Nam cái nhìn Địa - Văn hóa, 1998); Hoàng Lương nghiên cứu địa danh Tày - Thái cổ vùng Hà Nội (Ta Lo, Ta Khai, Kẻ Đồng); Nguyễn Duy Hinh (1988) nghiên cứu chữ Lạng trong địa danh Lạng Sơn; Kỷ yếu Hội thảo khoa học Thái học Việt Nam lần thứ 5 (2009) với các bài viết của Mông Ký Slay, Hoàng Văn Ma, Vương Toàn về cội nguồn, cấu tạo và chuẩn hóa địa danh Tày - Nùng.

Vị trí của luận án: Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên tiến hành khảo sát thực địa và phân tích đối chiếu hệ thống địa danh Choang (tại 4 huyện thuộc thành phố Sùng Tả) với địa danh Tày - Nùng (tại tỉnh Lạng Sơn) theo khung phân tích ngôn ngữ học kết hợp liên ngành, giải quyết khoảng trống nghiên cứu so sánh địa danh xuyên biên giới giữa hai quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên các quan niệm địa danh học và ngôn ngữ học trong và ngoài nước:

  1. Khái niệm và đặc trưng địa danh: Luận án điểm lại các quan niệm của A. Jutchkjevjtch, Quách Cầm Phù, Đàm Phượng Dư, A. V. Superanskaja, Lý Như Long, Lê Trung Hoa, Nguyễn Kiên Trường, Từ Thu Mai và Hà Quang Năng. Tác giả tổng hợp và đưa ra định nghĩa: Địa danh là một ký hiệu ngôn ngữ của không gian địa lý với vị trí, phạm vi và hình thái đặc trưng nhất định do một nhóm người trong xã hội quy ước, là danh từ riêng nằm trong hệ thống từ vựng của ngôn ngữ, chịu sự chi phối của các quy tắc ngôn ngữ và mang tính ổn định cao. Địa danh có ba đặc trưng cơ bản: tính chỉ định, tính ký hiệu và tính quy ước xã hội trong phạm vi không gian nhất định.

  2. Chức năng của địa danh:

  • Chức năng xã hội: Cá thể hóa đối tượng địa lý, định danh thực thể và phục vụ công tác phân vùng quản lý hành chính nhà nước.
  • Chức năng lịch sử: Đóng vai trò là "hóa thạch sống", lưu giữ các dấu tích sự kiện, nhân vật và tổ chức quân sự, chính trị (ví dụ: làng Nội Doanh tại Long Châu gắn với dấu tích doanh trại của Địch Thanh).
  • Chức năng thể hiện sự diễn biến ngôn ngữ - văn hóa: Phản ánh quá trình tiếp xúc ngôn ngữ qua các cấu trúc phức thể lai ghép (ví dụ: địa danh Lộng Phụ 弄埠 gồm thành tố Lộng gốc Choang kết hợp với Phụ là từ Hán cổ chỉ chợ hát).
  1. Khung phân loại địa danh: Luận án tiếp thu khung phân loại của Lý Như Long, thực hiện phân loại theo ba trục:
  • Phân loại theo đối tượng địa lý chỉ thị (địa hình tự nhiên, đơn vị hành chính, công trình nhân tạo).
  • Phân loại theo hình thức ngôn ngữ (cấu trúc gồm Thành tố chung - TTC và Thành tố riêng - TTR; tên gọi tắt, tên cũ).
  • Phân loại theo phương pháp định danh (căn cứ và phương thức đặt tên).
Tiêu chí phân loại Phân nhóm theo khung lý thuyết của Lý Như Long Ứng dụng trong phân tích của luận án
Đối tượng địa danh Địa danh tự nhiên, địa danh hành chính, địa danh kinh tế - văn hóa Khảo sát địa danh hành chính và địa vật tự nhiên nông thôn tại Sùng Tả và Lạng Sơn
Hình thức ngôn ngữ Đơn tiết, đa tiết, cấu trúc Thành tố chung (TTC) và Thành tố riêng (TTR) Phân tích mô hình cấu tạo từ vựng, trật tự cú pháp "TTC + TTR", các quan hệ ngữ pháp
Phương pháp định danh Định danh mô tả, định danh trần thuật, định danh gửi gắm Phân loại các trường nghĩa biểu trưng văn hóa, tâm lý cư dân và môi trường sinh thái
  1. Phương pháp nghiên cứu thực tế:
  • Phương pháp điều tra điền dã: Thu thập tư liệu địa danh trực tiếp từ người dân bản ngữ tại các vùng nông thôn còn duy trì tiếng Choang ở Sùng Tả và các xã thuộc Lạng Sơn; tra cứu tài liệu địa chí, bản đồ địa lý và văn bản Hán Nôm.
  • Phương pháp quy nạp và miêu tả đồng đại: Phân loại, lập danh biểu, thống kê định lượng các kiểu mô hình cấu tạo và các trường nghĩa.
  • Phương pháp phân tích ngôn ngữ học: Phân tích cấu trúc hình vị, từ vựng và ngữ nghĩa của từng thành tố trong địa danh.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu liên ngữ văn hóa: Đặt hệ thống địa danh Choang và Tày - Nùng trong tương quan so sánh để làm rõ điểm tương đồng do cùng cội nguồn và điểm khác biệt do bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ.
  • Phương pháp liên ngành và so sánh - lịch sử: Kết hợp tri thức dân tộc học, sử học (sử dụng văn hiến như Tân Đường thư), địa lý học để giải thích sự biến đổi ngữ âm và ngữ nghĩa.
  1. Nguồn tư liệu và địa bàn nghiên cứu:
  • Thành phố Sùng Tả: Diện tích 17.440 km², dân số 2,42 triệu người (2010), người Choang chiếm 88,6%; đường biên giới dài 533 km; gồm 1 khu (Giang Châu), 5 huyện (Phù Tuy, Đại Tân, Thiên Đặng, Long Châu, Ninh Minh) và 1 thành phố cấp huyện (Bằng Tường). Luận án khảo sát 1.147 địa danh tại 4 huyện/thành phố giáp Việt Nam: Đại Tân, Long Châu, Bằng Tường, Ninh Minh.
  • Tỉnh Lạng Sơn: Dân số 731.887 người (2009), trong đó người Nùng chiếm 42,97%, người Tày chiếm 35,92%; đường biên giới dài 253 km giáp Sùng Tả; có cấu trúc địa hình máng trũng Thất Khê - Lộc Bình và cánh cung Bắc Sơn. Luận án khảo sát 375 địa danh tại Lạng Sơn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận và bức tranh tổng quan về lịch sử nghiên cứu địa danh. Tác giả đã tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu địa danh trên thế giới (Anh, Pháp, Nhật Bản, Mỹ), Trung Quốc và Việt Nam, đặc biệt là các công trình về địa danh ngôn ngữ Tày - Thái và Bách Việt cổ. Chương này chuẩn định hệ thống khái niệm, xác lập 3 chức năng của địa danh (xã hội, lịch sử, văn hóa ngôn ngữ) và xây dựng khung phân loại địa danh theo đối tượng, hình thức ngôn ngữ và phương thức định danh.

Bên cạnh đó, chương 1 phân tích chi tiết điều kiện tự nhiên, hành chính, lịch sử hình thành của thành phố Sùng Tả và tỉnh Lạng Sơn. Luận án dẫn chứng cứ liệu lịch sử từ Tân Đường thư (quyển 222, Nam man Tây nguyên man truyện) ghi nhận vào thời Thiên Bảo (742–755), tổ tiên các dân tộc Choang, Tày, Nùng thuộc khối Tây Nguyên Man đã cùng chung sống tại vùng biên giới Ung - Quế. Cả ba dân tộc đều thuộc tiểu nhóm Tày Choang, có mối quan hệ cội nguồn mật thiết và cùng suy tôn nhân vật lịch sử Nùng Trí Cao.

Chương 2. Đặc điểm cấu tạo địa danh Choang ở TP. Sùng Tả, Quảng Tây, Trung Quốc (Có liên hệ với địa danh Tày-Nùng ở tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam)

Chương 2 đi sâu khảo sát và phân tích cấu trúc hình thức của 1.147 địa danh Choang tại Sùng Tả và đối chiếu với 375 địa danh Tày - Nùng tại Lạng Sơn:

  1. Mô hình cấu tạo: Địa danh Choang và địa danh Tày - Nùng đều tuân theo mô hình cấu tạo ngữ pháp đặc thù của ngôn ngữ Tày - Thái là "Thành tố chung (TTC) + Thành tố riêng (TTR)", thuộc loại hình địa danh "kiểu tế đầu" (từ trung tâm chỉ chủng loại địa vật đứng trước, thành tố khu biệt/bổ nghĩa đứng sau). Cấu trúc này ngược với trật tự ngữ pháp của địa danh tiếng Hán (vốn đặt thành tố loại hình ở sau). Luận án cũng phân tích hiện tượng chuyển hóa giữa TTC và TTR trong quá trình hành chức.

  2. Phương pháp tạo từ địa danh: Luận án phân loại và chỉ ra 4 phương thức tạo từ chính của địa danh Choang:

  • Địa danh nguyên sinh: Hình thành trực tiếp từ việc gọi tên các đặc điểm tự nhiên, địa hình ban đầu.
  • Địa danh phái sinh: Tạo ra từ các địa danh có sẵn thông qua việc kết hợp thêm các yếu tố phụ gia hoặc phương vị từ.
  • Địa danh chuyển hóa: Chuyển đổi từ danh từ chung, tên thực thể khác hoặc chuyển đổi chức năng loại hình sang địa danh.
  • Địa danh vay mượn: Địa danh tiếp nhận các yếu tố từ ngôn ngữ khác, đặc biệt là từ mượn tiếng Hán.
  1. Quan hệ cấu tạo ngữ pháp: Địa danh Choang và Tày - Nùng dạng từ phức được phân tích theo 3 mối quan hệ cú pháp chính:
  • Quan hệ chính phụ: Chiếm tỷ lệ tuyệt đối, gồm thành tố trung tâm (thường là danh từ chỉ địa hình như Na - ruộng, Lũng - thung lũng, Bản - làng) kết hợp với thành tố phụ bổ nghĩa (tính từ chỉ màu sắc, kích thước, tính chất hoặc danh từ chỉ thực vật, động vật).
  • Quan hệ đẳng lập: Cấu tạo từ hai yếu tố có vai trò ngữ pháp ngang hàng, biểu thị sự kết hợp song song của hai thực thể địa lý lân cận.
  • Quan hệ chủ vị: Cấu tạo gồm một kết cấu vị ngữ phản ánh trạng thái, hành động gắn với địa vật.
  1. Biến đổi hình thức và tiếp xúc ngôn ngữ: Luận án chỉ ra quá trình Hán hóa địa danh Choang ở Sùng Tả qua các hình thức phiên âm chữ Hán, dịch nghĩa hoặc biến dạng ngữ âm. Tại Lạng Sơn, địa danh Tày - Nùng cũng trải qua quá trình Việt hóa tương ứng về mặt chữ viết và phát âm hành chính, song cấu trúc "kiểu tế đầu" vẫn được bảo lưu vững chắc ở cả hai vùng.
Hạng mục cấu tạo Đặc điểm địa danh Choang (Sùng Tả) Đặc điểm địa danh Tày - Nùng (Lạng Sơn)
Mô hình ngữ pháp cơ bản TTC + TTR (kiểu tế đầu / từ trung tâm đứng trước) TTC + TTR (kiểu tế đầu / từ trung tâm đứng trước)
Các TTC phổ biến Na (ruộng), Lộng (thung lũng đá vôi), Bản (làng), Đầm (vực/ao) Na (ruộng), Lũng/Lùng (thung lũng), Bản (làng), Pò (đồi/núi)
Quan hệ cấu tạo chính Chính phụ (chiếm ưu thế), Đẳng lập, Chủ vị Chính phụ (chiếm ưu thế), Đẳng lập, Chủ vị
Dấu ấn tiếp xúc ngôn ngữ Tiếp xúc Hán ngữ mạnh (chữ Hán hóa, phương vị từ Hán) Tiếp xúc Việt ngữ (Việt hóa hành chính, mượn từ Việt/Hán Việt)

Chương 3. Đặc điểm ngữ nghĩa – văn hoá của địa danh Choang ở TP. Sùng Tả Trung Quốc (có liên hệ với địa danh Tày-Nùng ở tỉnh Lạng Sơn Việt Nam)

Chương 3 tập trung phân tích bình diện ngữ nghĩa và nội hàm văn hóa ẩn chứa trong các yếu tố cấu tạo địa danh:

  1. Phân loại ý nghĩa theo phương thức định danh: Luận án chia phương thức định danh địa danh Choang ở Sùng Tả thành 3 nhóm ý nghĩa lớn:
  • Địa danh mô tả: Chiếm số lượng lớn nhất, phản ánh trung thực môi trường tự nhiên, bao gồm miêu tả địa mạo địa hình (núi đá vôi, thung lũng, sông suối), miêu tả hình thể, màu sắc, vị trí phương vị và miêu tả hệ động thực vật bản địa gắn liền với sinh thái vùng á nhiệt đới.
  • Địa danh trần thuật: Ghi lại các hoạt động kinh tế nông nghiệp (canh tác lúa nước, hoa màu), lịch sử thiên di, dấu tích cư trú của thị tộc, họ tên nhân vật, công trình kiến trúc hoặc sự kiện lịch sử của cộng đồng.
  • Địa danh mang tính gửi gắm: Thể hiện tâm lý, ước vọng tốt đẹp của cư dân về cuộc sống ấm no, thanh bình, thịnh vượng hoặc gắn với tín ngưỡng, thế giới quan dân gian.
  1. So sánh liên hệ với địa danh Tày - Nùng: Cả hai hệ thống địa danh đều phản ánh đậm nét nền văn hóa nông nghiệp thung lũng và canh tác lúa nước (văn hóa Na). Tần suất xuất hiện cao của các yếu tố chỉ địa hình karst (Lộng, Lũng), nguồn nước và làng xóm cho thấy sự tương đồng sâu sắc trong phương thức ứng xử với môi trường tự nhiên của cư dân Tày Choang cổ.

  2. Tiếp xúc văn hóa và địa danh qua các thời kỳ: Chương này làm rõ dấu ấn của các cuộc di cư lịch sử được bảo lưu trong địa danh; hiện tượng phân tầng địa danh; và quá trình Hán hóa (ở Sùng Tả) cũng như Việt hóa (ở Lạng Sơn). Sự tiếp xúc ngôn ngữ tạo nên các địa danh lai ghép đa tầng ngữ nghĩa, phản ánh quá trình giao lưu văn hóa lâu dài giữa các dân tộc trong khu vực biên giới.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Đóng góp về mặt lý luận:
  • Cung cấp một khung phân tích hệ thống và nhất quán trong việc nghiên cứu địa danh học so sánh đối chiếu giữa các ngôn ngữ có cùng nguồn gốc nhưng thuộc hai quốc gia khác nhau.
  • Góp phần bổ sung tư liệu và luận cứ khoa học cho lý thuyết tiếp xúc ngôn ngữ, phân tích liên ngữ văn hóa và việc nghiên cứu nguồn gốc, sự diễn biến của ngữ hệ Thái - Kađai nói chung và tiểu nhóm Tày Choang nói riêng.
  1. Đóng góp về mặt thực tiễn:
  • Là công trình chuyên khảo đầu tiên khảo sát quy mô lớn, miêu tả và giải nghĩa chi tiết 1.147 địa danh Choang tại 4 huyện/thành phố thuộc Sùng Tả và 375 địa danh Tày - Nùng tại Lạng Sơn từ góc độ ngôn ngữ học.
  • Phục dựng diện mạo địa văn hóa vùng biên giới Trung - Việt, chứng minh tính thống nhất về mặt cội nguồn ngôn ngữ - văn hóa của khối cư dân Choang - Tày - Nùng, đồng thời chỉ rõ quy luật biến đổi của địa danh dưới tác động của ngôn ngữ chủ thể ở mỗi nước (tiếng Hán và tiếng Việt).
  • Cung cấp nguồn cứ liệu xác thực cho công tác chuẩn hóa địa danh, quản lý địa danh hành chính và nghiên cứu địa lý nhân văn khu vực biên giới.
  1. Kiến nghị và giải pháp đề xuất:
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh địa danh gốc Thái - Kađai sang các khu vực lân cận ở Nam Trung Quốc và các quốc gia Đông Nam Á khác (như Thái Lan, Lào, Myanmar) theo hướng tiếp cận ngôn ngữ học văn hóa liên ngành.
  • Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật số hóa trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu tra cứu và quản lý hệ thống địa danh các dân tộc thiểu số xuyên biên giới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do phạm vi nghiên cứu rộng, trải dài trên địa bàn hai quốc gia và khối lượng tư liệu địa danh rất lớn, luận án chủ yếu tập trung khảo sát các địa danh hành chính nông thôn đã được kiểm chứng tính xác thực tại 4 huyện/thành phố thuộc Sùng Tả (Đại Tân, Long Châu, Bằng Tường, Ninh Minh) và tỉnh Lạng Sơn; chưa thể bao quát toàn bộ các vi địa danh (tên khe, gò, đồng bãi nhỏ) tại các vùng núi sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục đào sâu nghiên cứu lịch đại và sự biến đổi ngữ âm lịch sử của các địa danh Tày Choang; mở rộng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn hóa - dân tộc học đối với toàn bộ hệ thống địa danh gốc Thái - Kađai trong khu vực.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu và Ngôn ngữ học văn hóa.
  • Các nhà nghiên cứu thuộc các ngành Dân tộc học, Văn hóa học, Lịch sử, Địa lý nhân văn quan tâm đến lịch sử di dân, cội nguồn văn hóa các dân tộc nhóm Tày - Thái và khu vực biên giới Việt - Trung.
  • Cán bộ làm công tác quản lý địa chính, cơ quan quản lý văn hóa và cơ quan tiêu chuẩn hóa địa danh tại các địa phương biên giới.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật nhất là hệ thống tiêu chí phân loại cấu tạo ngữ pháp, các bảng đối chiếu thành tố chung - riêng (Chương 2), khung phân tích phương thức định danh theo trường nghĩa văn hóa (Chương 3) và tập hợp danh mục 1.522 địa danh Choang và Tày - Nùng trong phần phụ lục.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án đã khảo sát bao nhiêu địa danh và tại những địa bàn cụ thể nào? Luận án tiến hành khảo sát và phân loại tổng cộng 1.522 địa danh, bao gồm 1.147 địa danh gốc Choang tại 4 huyện/thành phố biên giới thuộc thành phố Sùng Tả, Quảng Tây, Trung Quốc (gồm Đại Tân, Long Châu, Bằng Tường, Ninh Minh) và 375 địa danh gốc Tày - Nùng tại tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam.

  2. Mô hình cấu tạo của địa danh Choang và Tày - Nùng có đặc trưng ngữ pháp gì nổi bật? Địa danh Choang và Tày - Nùng đều tuân theo mô hình cấu tạo "kiểu tế đầu" (từ trung tâm đứng trước), tức cấu trúc "Thành tố chung + Thành tố riêng" (ví dụ: Na + tên riêng). Cấu trúc ngữ pháp này đối lập với địa danh tiếng Hán (vốn đặt thành tố chỉ loại hình ở vị trí sau cùng).

  3. Cứ liệu văn hiến lịch sử nào được luận án dẫn chứng sớm nhất về mối quan hệ cư trú chung của tổ tiên ba dân tộc Choang, Tày, Nùng? Luận án trích dẫn ghi chép trong Tân Đường thư (quyển 222, mục Nam man Tây nguyên man truyện), ghi lại sự kiện vào thời Thiên Bảo (742–755), các thủ lĩnh họ Hoàng, Vi, Châu, Nùng thuộc khối Tây Nguyên Man đã cùng chung sống tại vùng biên giới Ung - Quế, chứng minh mối quan hệ cội nguồn lịch sử lâu đời của ba dân tộc.

  4. Phương thức định danh địa danh Choang ở Sùng Tả được phân chia thành những nhóm ý nghĩa chính nào? Phương thức định danh địa danh Choang được chia thành 3 nhóm ý nghĩa chính: (1) Địa danh mô tả (phản ánh đặc điểm địa hình, cảnh quan, thực vật, động vật, phương vị); (2) Địa danh trần thuật (ghi lại lịch sử cư trú, họ tên, sự kiện, nghề nghiệp nông nghiệp); và (3) Địa danh mang tính gửi gắm (thể hiện nguyện vọng, tâm lý, tín ngưỡng của cộng đồng).

  5. Địa danh lai ghép "Lộng Phụ" phản ánh hiện tượng ngôn ngữ học nào trong luận án? Địa danh Lộng Phụ (弄埠) là minh chứng cho chức năng phản ánh diễn biến ngôn ngữ - văn hóa và tiếp xúc ngôn ngữ. Địa danh này là một phức thể kết hợp giữa thành tố Lộng (từ gốc Choang chỉ thung lũng đá vôi) với thành tố Phụ (từ Hán cổ chỉ chợ hát), thể hiện sự giao thoa văn hóa Choang - Hán tại Sùng Tả.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vi Hồng Bình là công trình nghiên cứu hệ thống về địa danh học đối chiếu giữa địa danh Choang tại thành phố Sùng Tả (Trung Quốc) và địa danh Tày - Nùng tại tỉnh Lạng Sơn (Việt Nam). Thông qua việc khảo sát 1.522 địa danh thực địa, tác giả đã làm rõ mô hình cấu tạo ngữ pháp "kiểu tế đầu", các phương thức định danh theo trường nghĩa văn hóa và quy luật biến đổi hình thức dưới tác động của tiếp xúc ngôn ngữ Hán - Việt. Kết quả nghiên cứu khẳng định tính thống nhất về cội nguồn ngôn ngữ - văn hóa của các dân tộc nhóm Tày Choang, đồng thời đóng góp nguồn tư liệu xác thực cho địa danh học và nghiên cứu liên ngành khu vực biên giới Trung - Việt.