CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM TỘC NGƯỜI BẢN ĐỊA VÀ THỰC TRẠNG GIÁC NGỘ CÁCH MẠNG GIAI ĐOẠN 1930 – 1945 1. ĐỊA BÀN CƯ TRÚ VÀ ĐẶC ĐIỂM CÁC TỘC NGƯỜI Ở TỈNH GIA LAI Tỉnh Gia Lai thuộc khu vực Bắc Tây Nguyên, nằm trong vùng tọa độ từ 12o59’40 đến 14o37’00 vĩ độ Bắc và từ 107o27’30 đến 108o54’90 kinh độ Đông; phía Bắc tiếp giáp tỉnh Kon Tum; Nam giáp tỉnh Đăk Lăk; Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Tây giáp tỉnh Ratanakiri của Campuchia trên chiều dài 90km đường biên giới.Với diện tích 15.536,92 km2, Gia Lai là tỉnh rộng nhất trong năm tỉnh Tây Nguyên, là địa bàn cư trú từ lâu đời của nhiều tộc người thuộc ngữ hệ Nam Á và Nam Đảo. Cư dân Gia Lai có thể chia làm hai bộ phận: bộ phận cư dân bản địa và bộ phận cư dân mới đến, bao gồm cả người Kinh lẫn các dân tộc ít người từ miền Bắc vào. Trong bộ phận cư dân bản địa sinh sống trên địa bàn tỉnh Gia Lai, người Jrai và người Bahnar là hai tộc người chiếm tuyệt đại đa số.
Theo những tài liệu dân tộc học và khảo cổ học, thì có thể giả định địa bàn cư trú gốc của người Jrai là cao nguyên Pleiku và lưu vực hai con sông Ayun và sông Ba. Rồi từ địa bàn đó dần dần người Jrai tiến xa lên phía Tây và về phía Bắc. Còn người Bahnar thì cư trú chủ yếu ở Đông Bắc tỉnh Gia Lai (huyện Kbang, Kông Chơro, Mang Yang, thị xã An Khê). Jrai và Bahnar là hai tộc người bản địa có số dân khá đông đảo, có ý thức rõ về địa vực cư trú và là hai nhân tố tạo nên nét văn hóa riêng có của tỉnh Gia Lai.
Người Jrai là một trong năm tộc người thuộc dòng ngữ hệ Mã Lai – Đa 11 Đảo (Malayo – Polinesien)1 hiện đang sinh sống trên vùng đất Nam Trường Sơn – Tây Nguyên và đồng bằng ven biển Trung bộ Việt Nam. Địa bàn cư trú của người Jrai là từ Nam tỉnh Kon Tum đến Bắc tỉnh Đăk Lăk (theo chiều dài Bắc – Nam) và từ Tây Bắc tỉnh Phú Yên đến vùng biên giới tiếp giáp với Campuchia (theo chiều Đông – Tây). Trong khu vực này, tỉnh Gia Lai là địa bàn người Jrai sinh sống tập trung nhất. Cho đến nay, vẫn còn có nhiều cách gọi khác nhau về tộc người Jrai như: Jarai, GiaRai, Jơrai nhưng cách gọi chính thức là Jrai có nghĩa là thác nước.
Khu vực cư trú chính của người Jrai trên địa bàn tỉnh Gia Lai là phía Tây cao nguyên Pleiku (thuộc các huyện Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, thành phố Pleiku) và vùng trũng Cheo Reo – Phú Túc ở phía Đông Nam tỉnh (gồm: thị xã Ayun Pa và các huyện Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa). Tộc người Jrai có nhiều nhóm, trong đó người Jrai ở tỉnh Gia Lai được chia thành 5 nhóm chính: Nhóm Jrai Chor (còn gọi là Cheo Reo hay Phun) cư trú trong khu vực thung lũng lòng chảo Cheo Reo (nay thuộc hai huyện Ayun Pa và Ia Pa). Chor có nghĩa là thung lũng lòng chảo mà J. Dournes – một nhà nghiên cứu người Pháp đã dịch là vùng thấp.
Đây là nhóm còn bảo lưu được nhiều đặc điểm điển hình nhất của tộc người Jrai. Nhóm Jrai Hdrung (gồm cả hai nhóm nhỏ Chon và HơBau) cư trú ở khu vực từ núi Hdrung đến Đông Bắc thị xã Pleiku và Tây huyện Đăk Đoa. Nhóm này mang tên Hdrung vì họ tụ cư quanh ngọn núi cùng tên nằm ở ngã ba Quốc lộ 14 và Quốc 19, cách trung tâm thành phố Pleiku 8km về phía Nam (người Việt gọi là Hàm Rồng). Đây là nhóm bảo lưu được khá đầy đủ kiến trúc nhà ở cổ truyền của tộc người Jrai.
Nhóm Jrai Aráp cư trú ở khu vực Tây Bắc thành phố Pleiku và một phần 1 Gồm: Chăm, Êđê, Jrai, Raglai và Churu. Aráp là tên con voi bốn ngà trong truyền thuyết của đồng bào. Khu vực cư trú của họ tiếp giáp với người Bahnar nên có ý kiến cho rằng họ là người gốc Bahnar được Jrai hóa. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng họ là người Jrai nhưng ít nhiều chịu ảnh hưởng văn hóa người Bahnar.
Hiện nay, đồng bào nhóm này tự nhận là người Jrai. Nhóm Jrai Tbuăn (Puôn) cư trú dọc biên giới Việt Nam – Campuchia, thuộc huyện Chư Prông, huyện Đức Cơ và một số xã thuộc huyện Ia Grai như xã Ia O, Ia Krăi – khu vực dọc sông Sê San. Cũng vì lẽ đó nên đồng bào tự nhận là nhóm gọi theo tên dòng sông Sê San. Tiếng nói của họ có sự giao thoa, pha trộn về mặt từ ngữ và ngữ âm của tiếng Khơme.
Phong tục, tập quán của họ cũng có nhiều điểm khác biệt so với nhóm Jrai Hdrung. Nhóm Jrai Mthur cư trú chủ yếu ở huyện Krông Pa - khu vực tiếp giáp với người Chăm và người Êđê. Do có sự giao thoa, tiếp biến văn hóa sâu đậm với hai tộc người trên nên nhóm này thường tự nhận là người Êđê, hoặc không tự biết mình thuộc tộc người nào, ví như người dân Jrai ở xã Krông Năng. Với số lượng dân cư chiếm ưu thế trong cộng đồng các dân tộc thiểu số, với ý thức về tộc người và vùng lãnh thổ tộc người khá rõ, lại sinh sống trên địa bàn án ngữ các huyết mạch giao thông nối khu vực Bắc Tây Nguyên với các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ nên người Jrai ở Gia Lai chiếm giữ một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển của tỉnh.
Cùng với tộc người Jrai tạo nên bản sắc văn hóa tỉnh Gia Lai ngày nay là tộc người Bahnar. Tộc người Bahnar thuộc ngữ hệ Môn – Khơme. Địa bàn cư trú chủ yếu của họ là phía Đông cao nguyên Pleiku thuộc các huyện: Mang Yang, Đăk Đoa, Đăk Pơ, Kông Chro và các xã Hà Tây, Ia Khươl (phía Bắc huyện Chư Păh), Tú Thủy (phía Đông Bắc thị xã An Khê). Người Bahnar ở tỉnh Gia Lai được chia thành năm nhóm: Nhóm Bahnar Gơlar (Roh – tức người bản địa, người trên núi) là nhóm 13 Bahnar có số lượng dân cư đông nhất.
Địa bàn sinh sống của nhóm này chủ yếu thuộc huyện Mang Yang và Đăk Đoa. Nhóm Bahnar Bơnâm cư trú chủ yếu trong vùng rừng già, phần lớn thuộc các xã Lơ Ku và Krong, huyện Kbang. Do sống trong vùng địa lý có nhiều cách trở, ít giao lưu với thế giới bên ngoài, nên cho đến giữa thế kỷ XX nhóm này vẫn bảo lưu được nhiều yếu tố văn hóa cổ xưa. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, khu vực này là trung tâm căn cứ của tỉnh Gia Lai nên nhóm Bahnar này tiếp nhận phần nào lối sống, tập quán canh tác và văn hóa của người Kinh.
Nhóm Bahnar Tơlô có số lượng dân cư đông và tự cho mình là nhóm Bahnar gốc. Nhóm này cư trú ven sông Ba (Pa), trên những vùng đất khá bằng và rộng thuộc huyện Kông Chro. Nhóm Bahnar Kon Kơđeh (có nghĩa là người vùng thấp – Ala kông) có thể xem là phân nhóm trung gian giữa nhóm Bahnar Bơnâm và Bahnar Tơlô, sinh sống chủ yếu ở Đăk Pơ và phía Nam huyện Kbang. Nhóm Bahnar Chăm (gần dân tộc Chăm) tiếp giáp vùng Vân Canh, Bình Định.
Nhóm dân tộc này địa bàn cư trú chủ yếu là các xã Đăk Song và Sơró thuộc huyện Kông Chro. Cư dân bản địa Jrai và Bahnar có tập quán sống thành từng làng mà người Jrai gọi là bon hay buôn còn người Bahnar thì gọi là plei, đe hay kon. Làng đảm nhiệm chức năng điều hòa, tập hợp các gia đình thành một khối cộng cư thống nhất trên cơ sở sở hữu tập thể. Trước năm 1945, các làng của người Jrai và người Bahnar khá thưa thớt, cách biệt nhau; trong không gian lãnh thổ 100km2 trung bình chỉ có 7,2 làng Jrai và 4,8 làng Bahnar.
Làng của người Jrai và người Bahnar thường ở gần nguồn nước để thuận tiện cho việc sinh hoạt và sản xuất. Quy mô của làng lớn hay nhỏ tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống cụ thể gắn với cảnh quan địa hình và trình độ kinh tế. Những ngôi nhà sàn là đặc trưng rõ nét nhất trong một làng Jrai và 14 Bahnar cổ truyền. Nhà của người Jrai thường được bố trí, sắp xếp theo hướng Bắc – Nam và thường quây quần bên nhau.
Nhà trong làng được dựng theo một trật tự nhất định luôn có cửa chính hướng về phía Bắc. Trong khi đó, hướng nhà của người Bahnar được bố trí linh hoạt hơn, chỉ trừ việc mở cửa về hướng Tây. Nhà trong làng được xây dựng tùy theo thế đất, dựa vào địa hình tại chỗ; nếu ở khu vực sông suối thì nhà cửa phân bố dọc theo dòng chảy. Mỗi làng Jrai và Bahnar đều có tên riêng và mang một ý nghĩa nhất định.
Tên làng Jrai thường được đặt theo tên nguồn nước trong khu vực hoặc tên người lập làng hoặc được đặt dựa theo một truyền thuyết cụ thể. Còn tên làng Bahnar thường đặt theo tên một loại cây (có nhiều hoặc điển hình), theo từ chỉ hình thù hay đặc điểm tự nhiên của vùng được chọn lập làng. Người Bahnar ít dùng tên người để đặt tên cho làng như người Jrai. Làng Bahnar và Jrai trên cao nguyên Pleiku đều có nhà Rông.
Với mái lá cao vút vươn lên trời và vô vàn họa tiết trang trí độc đáo, nhà Rông là công trình thể hiện tài năng và nghệ thuật kiến trúc của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên. Đây là nơi dân làng tổ chức những lễ hội, lễ nghi tín ngưỡng của cộng đồng. Sinh sống trên những địa hình khác nhau nên người Jrai, Bahnar có nhiều loại hình canh tác khác nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là canh tác rẫy và ruộng. Kỹ thuật canh tác của người Jrai và Bahnar còn thấp chủ yếu dùng những chiếc rìu, rựa để canh tác.
Bên cạnh trồng trọt, họ đã sớm biết chăn nuôi, trong đó chăn nuôi gia đình là một trong những ngành kinh tế phát triển. Săn bắn, hái lượm để có thêm lương thực, thực phẩm là một việc làm rất phổ biến trong khu vực cư dân bản địa Tây Nguyên. Về tín ngưỡng dân gian, người Jrai và Bahnar tin rằng, trong thế giới tự nhiên muôn hình muôn vẻ, có một lực lượng siêu nhiên,vô hình luôn tác động đến mọi mặt đời sống của đồng bào. Lực lượng vô hình ấy được gọi chung là 15 yang (thần).
Đối với người Bahnar thì bok Kei Dei (thần nam) và yă Kung Keh (thần nữ) là 2 vị thần tối cao sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài rất được người Bahnar kính trọng.