mở đầu cho thời đại đồng thau ven đôi bờ sông Mã, sông Chu, là lớp cư dân Cồn Chân Tiên nằm sát chân phía đông nam núi Đọ đã trở thành cốt lõi đầu tiên trong việc hình thành bộ Cửu Chân trong nhà nước Văn Lang [30; tr. Thiệu Quang là vùng đất nằm dọc giữa hai con sông: sông Mã và sông Cầu Chày với chiều dài hơn 4km, rộng hơn 2km nên từ xa xưa, dân ở khắp nơi đã về khai hoang, lập ấp và sinh sống. Qua một số di sản văn hóa vật thể và phi vật thể còn bảo tồn đến ngày nay như: kiến trúc đền, đình, chùa, các giai thoại phong tục, tập quán, nếp sống văn hóa của nhân dân Thiệu Quang cho thấy sự hình thành và phát triển làng xã gắn liền với quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, chống dịch họa lâu dài và gian khổ. Theo sách cũ ghi từ thời Tiền Tống (420 - 479) thành Tư Phố (thuộc Thiệu Dương, Thiệu Khánh ngày nay) đã là một trung tâm hành chính, kinh tế.
Thiệu Quang ở gần thành Tư Phố lại thuộc vùng đất màu mỡ, gần 15 những con sông lớn nên sớm có người định cư. Cách đây hàng ngàn năm, Lỗ Tử thuộc vùng Tam Lỗ (Lỗ Tử, Mao Lỗ, Đông Lỗ) là miền đất lập nghiệp của Dương Tam Kha (thế kỷ thử X), người sinh ra thái hậu Dương Vân Nga nổi tiếng trong lịch sử. Điều này chứng minh người dân đã sinh sống, định cư từ rất sớm trên vùng đất Thiệu Quang Qua quá trình đấu tranh chinh phục thiên nhiên, tạo dựng cuộc sống, dần dần làng xóm được hình thành, cộng đồng dân cư ra đời ngày một đông đúc, gắn bó với nhau. Trải qua thời gian, các thế hệ người dân Thiệu Quang nối tiếp nhau chung tay vật lộn với sông nước, đắp đê, ngăn lũ vào mùa mưa khơi ngòi, tạo rạch trữ nước tưới cho mùa khô, dần biến vùng đất hoang hóa bên dòng sông Mã thành một vùng quê đông đúc.
Để có được diện mạo của Thiệu Quang như hôm nay là cả một quá trình gian khổ, dài lâu chế ngự thiên nhiên của ông cha ta. Năm Thành Thái thứ 12 (1900) từ huyện Thụy Nguyên, do phân chia lại địa giới huyện, phủ Thiệu Hóa được thành lập gồm 8 tổng. Thiệu Quang thuộc tổng Mật Vật (riêng Châu Trướng thuộc tổng Hải Quật). Sau Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước bỏ đơn vị hành chính trung gian là tổng và đổi phủ Thiệu Hóa thành huyện Thiệu Hóa với 12 xã.
Thiệu Quang thuộc xã Quang Thịnh gồm 7 làng: Châu Trướng, Nhân cao, Trí Cường, Nhuệ Thôn, Phùng Thôn, Chấn Long (làng Nạp), Thắng Long (làng Đàng) [29, tr 309]. Tháng 10 - 1953 trên cơ sở tách ra từ xã Quang Thịnh, Thiệu Quang gồm các làng: Châu Tướng, Nhân Cao, Trí Cường và một xóm mới. Ngày 5-7-1977, Hội đồng Chính phủ đã ra Quyết định số 177/CP về việc giải thể huyện Thiệu Hóa, 15 xã nằm trong vùng tả ngạn sông Chu sáp nhập vào huyện Yên Định, lập ra huyện mới mang tên Thiệu Yên, 16 xã còn lại ở hữu ngạn sông Chu sáp nhập vào Đông Sơn, lập ra huyện Đông Thiệu (năm 1982 đổi theo tên cũ là Đông Sơn). Xã Thiệu Quang thuộc huyện Thiệu Yên.
Ngày 18 - 11 - 1996, huyện Thiệu Hóa được tái lập theo Nghị 16 định số 72/CP của Chính phủ. Ngày 1-1-1997, địa giới và tổ chức hành chính trở lại như cũ của 20 năm trước đây, xã Thiệu Quang thuộc về huyện Thiệu Hóa mới tái lập. Quá trình hình thành làng xã Xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa được coi là vùng đất cổ xưa là một trong những “cái nôi của người Việt cổ”. Trên vùng đất này, hàng trăm năm về trước đã có con người cư trú và chính họ là những chủ nhân khai phá vùng đất còn hoang sơ thành những cánh đồng trù phú, tạo lập nên những tụ điểm dân cư đông đúc, sầm uất.
Đó là những cộng đồng dân cư đặt nền móng cho sự ra đời và hình thành các làng xã đầu tiên trong lịch sử. Sự hình thành làng xã ở đồng bằng sông Mã trong quá trình phát triển có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chính từ đó đã góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng về kinh tế, văn hóa.trong các làng xã nơi đây. Trải qua quá trình thay đổi địa giới và sáp nhập các đơn vị hành chính, hiện nay xã Thiệu Quang gồm các làng: Châu Trướng, Nhân Cao, Chí Cường và làng mới. Làng Châu Trướng, theo địa chí huyện Thiệu Hóa làng Châu Trướng (tên nôm là làng Nồi hoặc Chiềng Nồi).
Đầu thế kỷ XIX thôn Châu Trướng thuộc tổng Hải Quật, huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa. Đời vua Đồng Khánh (1885 - 1888) là thôn Chu Trướng, xã Ngọc Trướng, tổng Hải Quật, huyện Yên Định, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thuộc xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa. [29, tr 124] Làng Châu Trướng có diện tích canh tác hơn 80ha, nằm về phía Bắc của xã Thiệu Quang, cách trung tâm xã khoảng 2km, cách thành phố thành hóa 10km và thị trấn Thiệu Hóa 14km. Phía Tây và phía Bắc của làng Châu Trướng là sông Cầu Chày, phía Đông là dòng sông Mã.
Vì thế trong bản đồ tỉnh Thanh Hóa người ta rất dễ nhận ra làng như đốt ngón tay bụ bẫm chỉ về hướng Bắc. 17 Dân làng Châu Trướng sống theo vành lược ven đê sông Mã, sông Cầu Chày. Cuối làng ngày xưa còn có một xóm bãi bên bờ sông Mã. Ở đây cạnh ngã ba sông Cầu Chày và sông Mã (Ngã Ba Nồi) vì vậy ngày xưa rất thuận lợi cho việc làm ăn và đi lại bằng đường thủy, còn bây giờ trở nên hẻo lánh, xa trung tâm huyện, xã.
Làng thành lập từ bao giờ chưa có sách nào chép lại, chỉ có mấy dấu hiệu để nhận biết rằng làng đã có từ rất lâu đời. Theo ông Tạ Quang (người nghiên cứu văn học dân gian) thì có giai thoại kể rằng: Tên làng Châu Trướng do Lê Lợi đặt cho. Căn cứ vào sắc phong Thần hoàng làng đến nay còn giữ lại được (do ông Hoàng Đình Tuất và bà Cam Nam giữ, nhờ ông Mai Xuân Đễnh, một nhà Nho ở Vạn Hà dịch) thì do vua Lê Hiển Tông hiệu là Cảnh Hưng phong, tính đến nay cũng đã hơn 250 năm. Cũng theo nghĩa chữ Hán trong sắc phong thì “Châu” có nghĩa là bãi, “Trướng” có nghĩa là “bức bình phong” [41; tr.
16] Có lẽ do ngày xưa đê Thiệu Quang không lớn nên địa thế làng giống như một bãi nổi nhìn ra hai con sông và dãy núi Bông, núi Chè như bức bình phong. Cũng có người cho rằng “Châu Trướng” là “quý” và “nhiều”. Còn tên làng Nồi là do xưa kia làng có nghề sành sứ, nay ở Cồn Lò còn dấu tích. Những cái tên Mã Cứu, Cây Đề, Thần Nông, Cồn Lò, Thỉnh Kinh, Bờ Mường.
chứa nhiều sự tích và huyền thoại của làng. Làng Châu Trướng hiện nay là địa bàn sinh tụ của nhiều họ, trong đó họ Nguyễn, họ Trần, họ Lê là chủ yếu. Ngoài ra còn có họ Đào (Đầu), họ Đoàn, họ Bùi, họ Đặng, họ Hoàng, họ Vũ, họ Phạm, họ Cao. Họ Trần ở Hải Dương di cư đến từ hơn 300 năm và cũng là một trong những họ lâu đời nhất làng.
Họ Nguyễn Văn ở Hạ Đồ (Hoàng Hóa) đến vùng đất Châu Trướng khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Họ Phạm, họ Đặng, và hộ họ Lê có nguồn gốc từ Hành Thiện (Nam Định) đến, mang theo nhiều nghề, nhất là nghề trồng trầu không. Họ Đầu, họ Đoàn làm nghề vận tải thuyền, có cả ba đoàn thuyền lớn vận tải hàng hóa đi khắp nơi, từ các vùng 18 trong tỉnh đến Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng. Làng Châu Trướng đã trở thành nơi hội tụ của các luồng dân cư ở khắp nơi các vùng miền đến sinh sống, lập nghiệp.
Do đó, ngoài những đặc trưng chung của một vùng châu thổ sông Mã, thì làng Châu Trướng còn có những đặc trưng văn hóa riêng biệt với nền kinh tế nhiều nghề và tính cách của cư dân năng động, tháo vát. Vì thế thời phong kiến, tuy là làng nhỏ, nhưng vẫn là một làng trù phú, giàu có, phong lưu nhất vùng. Làng Châu Trướng có rất nhiều nghề, nhưng chủ yếu vẫn là nghề nông, chỉ một số ít gia đình ở làng làm nghề vận tải trên sông, nghề làm gạch, nghề sành sứ. Nghề làm ruộng có cơ cấu cây trồng đa dạng, hiệu quả cao.
Ngoài lúa là cây trồng chính thì thời xưa nghề trồng cây trầu không của làng rất phát triển, nhà giàu trồng vài sào, nhà nghèo trồng vài chục mét vuông. Trầu không được trồng thành khu giữa những cánh đồng cao ráo, màu mỡ nhất. Vườn trầu là cả một gia tài, cấu trúc vững chắc, sạch đẹp, thoáng để chống trộm, chống bão, chống gió bấc. Đất Thiệu Quang phù hợp với cây trầu phát triển.
Năm trầu đắt, mỗi lá trầu một đồng bạc, người ta tậu ruộng, làm nhà, cho con đi học xa nhờ trầu không, nhờ trồng trầu không mà đời sống dân làng khá no đủ. Ngoài ra, làng còn trồng một số loại cây công nghiệp khác có giá trị kinh tế cao như: cây bông, cây thuốc lá, hành, tỏi.bán khắp vùng, thuốc lá trồng nhiều đến mức nhà nước còn đặt trạm thu mua giữa làng. Với vị trí “cận sông” nên bên cạnh làm ruộng, làng Châu Trướng còn một số ít người làm nghề vận tải trên sông. Trong đó điển hình phải kể đến họ Đào, họ Đoàn có cả một đoàn thuyền lớn vận tải hàng hóa đi khắp nơi, từ trong nội tỉnh đến Nam Định, Hải Phòng.
Nghề vận tải đường sông ở Thiệu Quang nói riêng, huyện Thiệu Hóa nói chung đã có một thời kỳ phát triển và có những đóng góp không nhỏ trong đời sống cư dân vùng đất này. Tuy nhiên, những năm gần đây khi giao thương ở các địa phương phát 19 triển thì nghề vận tải đường sông của nhân dân làng Châu Trướng cũng đã bị hạn chế, thu hẹp. Trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, làng có cơ sở vật chất đáng kể: Một ngôi đình tọa lạc trên một thân đất cao giữa làng, nhìn ra bến đò là làng Phú (xã Hoằng Khánh, huyện Hoằng Hóa). Đình là nơi thờ cúng và tụ hội của làng trong các dịp lễ hội.
Qua nghiên cứu, khảo sát cho thấy, tại đình làng ngày xưa hằng đêm vẫn thường diễn ra những trò diễn hát tuồng và âm vang của tiếng trống chầu cứ vang vọng mãi trong làng. Làng còn có một ngôi chùa tuyệt đẹp, phía trước chùa là cổng Tam quan lộng lẫy do thợ Tòng Tân xây dựng rất công phu, có nghè thượng, nghè hạ, văn chỉ, võ chỉ và nhiều cây cổ thụ làm nơi che bóng mát cho làng.