Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý phát triển đội ngũ giáo viên Chương 2: Thực trạng quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Chương 3: Một số biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Lộc Bình tỉnh Lạng Sơn. 4 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Với quan điểm con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, Đảng và Nhà nước ta chủ trương coi giáo dục là quốc sách hàng đầu trong chính sách phát triển đất nước. Trên cơ sở nhận thức đó, trong vòng hai thập kỷ qua ( kể từ Hội nghị Trung ương 4 khoá VII) Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều Nghị quyết, Chỉ thị về phát triển giáo dục.
Trong đó để nâng cao chất lượng giáo dục, Đảng ta đã hết sức coi trọng việc bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Trong chiến lược phát triển giáo dục 2000- 2010 Chính phủ đã chỉ rõ: phải “đổi mới quản lý giáo dục” coi việc “đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên cán bộ quản lý giáo dục các cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý” là khâu then chốt để thực hiện mục tiêu giáo dục. Các học giả nghiên cứu về lý luận quản lý cũng như các nhà quản lý hiện đại trên thế giới đều cho rằng chất xám là nguồn lực quan trọng nhất quyết định sự thành bại của các tổ chức trong việc thực hiện các mục tiêu chung. Trong những năm gấn đây, nhiều đề án, giải pháp nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo ở các cấp học, bậc học đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi : - Đề án xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005- 2010 ( QĐ số 09/2005/QĐ-TTg ngày 11 tháng 1 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ).
Trong mảng đề tài nghiên cứu về xây dựng, quản lý phát triển đội ngũ giáo viên đã có nhiều tác giả nghiên cứu như là: - Một số giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy ở trường đại học sân khấu điện ảnh trước yêu cầu hiện nay ( Luận văn thạc sỹ QLGD của Đặng Thị Thanh, Đại Học Sư phạm Hà Nội, 2004 ). 5 z - Một số biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng sư phạm Hà Tây trong giai đoạn hiện nay( Luận văn thạc sỹ QLGD của Trần Sâm, Đại Học Sư phạm Hà Nội, 2006 ). - Các biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên trường trung cấp y tế Hải Phòng giai đoạn 2006 - 2010 nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trường đại học An Giang (Luận văn thạc sỹ QLGD của Trần Danh Phương, Đại Học Sư phạm Hà Nội, 2006 ). - Một số biện pháp quản lý nhằm xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trường đại học An Giang (Luận văn thạc sỹ QLGD của Nguyễn Thanh Hải, Đại Học Sư phạm Hà Nội, 2007 ).
- Biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng điện tử điện lạnh Hà Nội ( Luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục của Nguyễn Đăng Lăng, Đại Học Sư phạm Hà Nội, 2008 ). Còn nhiều luận văn đề cập đến quản lý phát triển đội ngũ giáo viên, song chưa có luận văn nào có đề tài về biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên ở trung tâm GDTX cấp huyện. Các công trình nghiên cứu này thực sự là những kiến thức quý báu góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhân lực nói chung và quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trung tâm GDTX nói riêng. Ở tỉnh Lạng Sơn, vấn đề quản lý phát triển đội ngũ giáo viên nói chung và đội ngũ giáo viên trung tâm GDTX nói riêng được lãnh đạo các đơn vị quan tâm, song nó chỉ tồn tại như những kinh nghiệm rải rác trên các sáng kiến kinh nghiệm hoặc báo cáo tổng kết của các đơn vị trung tâm, chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ và hệ thống.
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi muốn đi sâu hơn để xác định cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn và trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp quản lý phát triển đội ngũ giáo viên các trung tâm GDTX cấp huyện - tỉnh 6 z Lạng Sơn, nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV của các trung tâm GDTX cấp huyện tỉnh Lạng Sơn cho phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Một số quan niệm về quản lý Hoạt động quản lý xuất hiện từ rất sớm, khi con người biết hợp sức lại với nhau nhằm thực hiện những mục tiêu chung. Xã hội ngày càng phát triển, quản lý ngày càng có vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động của xã hội.
Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [47, Tr 789] Quản lý là một hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên khách thể quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý chủ thể tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như xác định mục tiêu, các chủ trương, chính sách; hoạch định kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, điều hoà, phối hợp, kiểm tra và huy động, sử dụng các nguồn lực cơ bản như tài lực, vật lực, nhân lực, tin lực…để thực hiện các mục tiêu, mục đích mong muốn trong bối cảnh và thời gian nhất định. Trong tác phẩm “Lý luận quản lý nhà nước” của Mai Hữu Khuê, xuất bản năm 2003 có định nghĩa về quản lý như sau: Quản lý là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệp tác và phân công lao động, nó là một thuộc tính tự nhiên của mọi lao động hiệp tác. Từ khi xuất hiện những hoạt động quần thể của loài người thì đã xuất hiện sự quản lý.
Sự quản lý đã có trong cả xã hội nguyên thuỷ, ở đó con người phải tập hợp với nhau để đấu tranh với thế giới tự nhiên, muốn sinh tồn con người phải tổ chức sản xuất, tổ chức phân phối. Khái niệm quản lý có ngoại diên rất rộng, từ việc ăn uống đến sinh bệnh lão tử, từ cá nhân đến gia đình, từ quốc gia đến thế giới, từ vật chất đến tinh thần, 7 z nơi nào có sự hiện diện của con người thì đều cần đến quản lý.Mác đã coi việc xuất hiện quản lý như là kết quả tất nhiên của sự chuyển nhiều quá trình lao động cá biệt, tản mạt, độc lập với nhau thành một quá trình xã hội được phối hợp lại.Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”.180] Về khái niệm quản lý còn có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau: - Thuật ngữ quản lý (Từ hán việt) lột tả bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý ”gồm sửa sang, sắp xếp, đưa vào thế “phát triển”.
1] “ Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,.bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. 7] “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động” [39, Tr.15] “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [40, Tr. 43] Các nhà lý luận quản lý quốc tế như: F. Taylor (1856 – 1915) quan niệm rằng: Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất.
8 z Theo Henry Fayon (1841 – 1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức” [26, Tr. Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Theo Mary Parker Pollett thì: Quản lý là “Nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác” là “Quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên của tổ chức, và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của tổ chức”.
( Stoner, 1995) Theo từ điển bách khoa về giáo dục học, khái niệm quản lý nhà nước về giáo dục được giải nghĩa là việc: thực hiện công quyền để quản lý các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, khái niệm về quản lý được định nghĩa như sau: “Quản lý là tác động có chủ hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [26 , Tr .