phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, cơ cấu luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về chất lƣợng và hiệu quả đào tạo nghề thông qua liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Chƣơng 3: Thực trạng chất lƣợng và hiệu quả đào tạo nghề thông qua liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp tại Hƣng Yên. Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao chất lƣợng và hiệu quả đào tạo nghề thông qua liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hƣng Yên. 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.
Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Ở các nƣớc trên thế giới, nghiên cứu về đào tạo nghề, chất lƣợng và hiệu quả đào tạo nghề thông qua liên kết đào đạo, đƣợc nhiều tổ chức quốc tế, các trƣờng đại học, các viện nghiên cứu, các tổ chức chính phủ, các tổ chức phi chính phủ và giới học giả hết sức quan tâm. Tổ chức Giáo dục - Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) là tổ chức quốc tế lớn nhất dành sự quan tâm sâu sắc đến giáo dục đào tạo, chất lƣợng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo. Các nghiên cứu, cẩm nang hƣớng dẫn, chƣơng trình hợp tác, dự án phát triển của UNESCO khá nhiều, đa dạng về thể loại, phong phú về nội dung. Trên cơ sở nghiên cứu hệ thống, chất lƣợng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo, năm 2013 UNESCO xuất bản cuốn “UNESCO Handbook on Education Policy Analysis and Programming” [126] (Cẩm nang phân tích chính sách và kế hoạch hóa giáo dục).Trong đó, đề xuất một phƣơng pháp hệ thống và cấu trúc hóa nhằm hỗ trợ việc phân tích các chính sách giáo dục và đào tạo cũng nhƣ kế hoạch hóa lĩnh vực này để tăng cƣờng khả năng tiếp cận, nâng cao chất lƣợng và hiệu quả quản lý, giải quyết các vấn đề liên ngành, liên lĩnh vực đối với mọi cấp trình độ cũng nhƣ loại hình giáo dục, đào tạo của mỗi quốc gia.
Cẩm nang cung cấp khung lý thuyết cho việc phân tích chính sách, hoạch định kế hoạch, khuyến khích sự đối thoại chính sách giữa các cơ quan chính phủ với các đối tác phát triển; từ đó đƣa ra các hƣớng dẫn từng bƣớc phân tích chính sách và hoạch định chƣơng trình giáo dục và đào tạo. Hiệp hội phát triển giáo dục Vƣơng quốc Anh là một tổ chức nghề nghiệp, hoạt động vì mục tiêu phát triển hệ thống giáo dục và đào tạo, nâng cao năng lực của các thành viên hiệp hội, thúc đẩy việc nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của giáo dục và đào tạo nghề. Năm 2001, Hiệp hội công bố xuất bản tác phẩm với tên gọi “Measuring effectiveness in development education” (Đo lƣờng hiệu quả trong giáo dục phát triển)[116]. Nghiên cứu này đƣa ra các nguyên tắc khi phân tích, đánh giá một hệ thống giáo dục; các mục tiêu đánh giá, đo lƣờng hiệu quả; định nghĩa các khái niệm về đánh giá, hiệu quả, tác động lan tỏa, các chỉ số đo lƣờng hiệu 9 quả; các cấp độ hiệu quả: cấp độ cá nhân ngƣời học; cấp độ cơ sở giáo dục, đào tạo; cấp độ đầu tƣ của nhà nƣớc; cấp độ hiệu quả trên toàn bộ nền kinh tế và xã hội.
Tác giả George Psacharopoulos (2008) [115] khi nghiên cứu về giáo dục và dạy nghề, đã xác định các thách thức và đề xuất một số giải pháp giải quyết các thách thức đó. Theo đó, đào tạo nghề có vai trò rất quan trọng trong các vấn đề về giải quyết thất nghiệp cho thanh niên; giải quyết việc thiếu kỹ thuật viên trung cấp cho các DN đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa; truyền bá tri thức công nghệ đồng thời đây cũng là con đƣờng phát triển phù hợp cho những học sinh có mong muốn sớm làm việc kiếm tiền để có thể tự lập nhanh chóng. Kết quả nghiên cứu cho thấy những vấn đề phát triển nhƣ: (i) thanh niên có nghề nhƣng vẫn thất nghiệp; (ii) sự phát triển về quy mô của các cơ sở đào tạo đối lập với sự thiếu hụt lao động có tay nghề kỹ thuật trong các doanh nghiệp. Từ đó, tác giả đã đƣa ra nguyên nhân và biện pháp giải quyết, trong đó đặc biệt chú ý đến chính sách đối với ngƣời lao động và đào tạo nghề gắn với nhu cầu của các DN và xã hội[115].
(2009) đã đƣa ra nhu cầu của nhà sử dụng lao động đƣợc biểu hiện bằng mong muốn của họ có đƣợc những lao động đƣợc đào tạo với những kiến thức và phẩm chất con ngƣời đáp ứng đƣợc yêu cầu của những vị trí công việc mà những lao động này phải đảm nhiệm trong các cơ quan, tổ chức cũng nhƣ trong doanh nghiệp. Bằng cách đó, các cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp có đƣợc nguồn lực quan trọng, thậm trí là quan trọng bậc nhất để làm tròn sứ mạng của mình, để tồn tại và phát triển; đặc biệt là trong điều kiện thời đại của kinh tế tri thức ngày càng chiếm vai trò chủ đạo [109]. Tổ chức Cedefop (European Centre for the Development of Vocational Training - Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu) [111] cũng nhƣ các tác giả: Lisbeth Lundahh and Theodor Sander [116]; Kathrin Hoeckel [118]; Rita Nikolai và Christian Ebner [116]. đã có những kiến giải khá toàn diện về lợi ích mang lại cho các bên tham gia thông qua con đƣờng liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo với DN.
Đặc biệt, từ năm 2005 đến năm 2009, Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu (Cedefop) đã triển khai nghiên cứu về lợi ích liên kết đào tạo với DN theo nhiều hƣớng khác nhau tại các quốc gia châu Âu nhƣ: Cộng hoà Séc, Đan mạch, Đức, Tây ban nha, Pháp, Ý, Latvi, Hungary, Hà lan, Austria, Ba lan, Bồ đào nha, Romania, Slovenia, Slovakia, Phần lan, Thụy điển và Vƣơng quốc Anh cũng nhƣ Nauy và Iceland. Để từ đó khẳng định: 2 nhóm lợi ích chính mà chƣơng trình liên kết đào tạo nghề đem lại là: Lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Cả 2 nhóm lợi ích đều 10 đƣợc phân tích cụ thể qua 3 cấp độ: Cấp độ vi mô (lợi ích của cá nhân); Cấp độ trung gian (lợi ích của DN); Cấp độ vĩ mô (lợi ích của xã hội) [111]. Ngoài ra, các thành viên của trung tâm Cedefop cũng rất quan tâm đến yếu tố tiền lƣơng và cơ hội việc làm.
Theo họ, đây là những yếu tố tạo nên thành công của liên kết đào tạo nghề. Các tác giả Ritzer, G (1996), Van Vught, F (1991),Westerheijden D. Đã nghiên cứu về mối quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cũng đã nhận định: Mối quan hệ hợp tác giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp đƣợc hiểu nhƣ là những giao dịch giữa các trƣờng và các tổ chức sản xuất kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên. Mối quan hệ này đang chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố trong đó có nhận thức về lợi ích của sự hợp tác, cũng nhƣ những rào cản và động lực của sự hợp tác đó [121], [123], [126].
Hơn nữa, theo Carayon (2003); Gibb & Hannon (2006) những nhân tố thuộc về hoàn cảnh nhƣ tuổi tác, giới tính, số năm học, số năm làm việc trong giới doanh nghiệp, đặc điểm của cơ sở đào tạo và của quốc gia…cũng ảnh hƣởng tới phạm vi của việc hợp tác [115], [116]. Các tác giả: Ann Dykman, David R. đã đề cập tới nhiều giải pháp liên kết mang lại hiệu quả tích cực nhƣ: đào tạo tại xí nghiệp, nơi sản xuất với vai trò chủ đạo thuộc về DN. Theo tác giả Frank Bunning và Schnarr cần chú ý đến hoạt động xúc tiến chiến dịch cộng tác (strategic partnership) giữa các thành viên nhƣ: Các cá nhân; Gia đình; Cộng đồng; Các tổ chức tình nguyện; Cơ sở ĐTN tƣ nhân; Cơ sở ĐTN quốc gia; Công nhân và tổ chức; Ngƣời quản lý và tổ chức; Chính phủ.
Vấn đề là phải tạo đƣợc sự thoải mái, tự nguyện trong liên kết [112]. Tác giả Wu Quanquan nhấn mạnh, phải có sự hợp tác lẫn nhau giữa DN và cơ sở đào tạo, tiến hành đào tạo theo yêu cầu - Training by Order [112] thông qua sự tích cực, chủ động giữa các đối tác. Các tác giả: Chana Kasipar, Se-Yung LIM, Alexander Schnarr, Wu Quanquan, Xu Ying, Frank Bunning [112]; Tazeen Fasih [122]. nhấn mạnh tới trách nhiệm, vai trò của DN, các quy định về nghĩa vụ, khoản kinh phí đóng góp cho quỹ đào tạo, hỗ trợ phát triển nhân lực.
Các chính sách cho vay vốn với lãi suất ƣu đãi; Chính sách khuyến khích DN tự đào tạo lao động thông qua việc cho phép DN tính chi phí đào tạo nhân lực vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; chính 11 sách đào tạo nghề (ĐTN) miễn phí thông qua một số dự án dạy nghề cho một số đối tƣợng lao động thuộc nhóm yếu thế trong xã hội. Ngoài ra, cần có hệ thống chính sách hỗ trợ DN tham gia ĐTN nhƣ: Chính sách quy định trách nhiệm của DN khi tiếp nhận lao động qua ĐTN; Chính sách đối với chuyên gia, nhân viên kỹ thuật có tay nghề cao của DN tham gia ĐTN…; Chính sách sử dụng ngƣời lao động qua ĐTN, đặc biệt cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nƣớc về lao động với đại diện giới chủ, đại diện giới thợ, đại diện của các hội nghề nghiệp và CSĐTN trong việc xác định nhu cầu của DN về lao động và xây dựng danh mục, tiêu chuẩn nghề. Các quốc gia trên thế giới, đặc biệt khu vực châu Âu rất chú trọng tới liên kết đào tạo với DN. Nhiều mô hình liên kết đào tạo đƣợc thử nghiệm, áp dụng nhƣ: Mô hình "đào tạo kép" - Mô hình liên kết đào tạo song hành (Dual System) của Cộng hoà liên bang Đức [5], [36], [119], [120], [124]; Mô hình "đào tạo luân phiên" (Alternation) của Pháp [5], [36]; Mô hình "2 + 2" của Nauy [129]; Mô hình dạy nghề tam phƣơng (Trial System) của Thụy Sỹ [120], [128]; Mô hình "ba kết hợp” (Three in one) của Trung Quốc [112]; Mô hình "hệ thống 2 + 1" (2 + 1 system) của Hàn Quốc [114]; Mô hình "hệ thống hợp tác đào tạo nghề" (Cooperative Training System) của Thái Lan [112].
tuy mỗi mô hình có những ƣu nhƣợc điểm và điều kiện, môi trƣờng riêng song về cơ bản, các mô hình đã chứng minh đƣợc tính ƣu việt trong liên kết đào tạo với DN tại mỗi quốc gia ở một giai đoạn lịch sử nhất định.