Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam hiện có khoảng 68,3% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn với lực lượng lao động dồi dào đạt 53,24 triệu người, trong đó lao động nông - lâm - thủy sản chiếm trên 68%. Tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, tính đến năm 2018, dân số toàn huyện đạt 78.059 người với 83,6% cư trú ở khu vực nông thôn và lực lượng lao động dồi dào gồm 42.904 người. Dù sở hữu tiềm năng lớn về diện tích đất sản xuất nông nghiệp lên tới 45.048,16 ha (chiếm 79,44% diện tích tự nhiên), nguồn nhân lực tại địa phương vẫn đối mặt với nhiều rào cản: tỷ lệ lao động tự làm cao, thị trường phân tán, giá nhân công thấp và tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2015 chỉ đạt 40,0%. Đặc biệt, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 84,0% dân số toàn huyện (dân tộc Nùng chiếm 48,9%, Tày chiếm 34%), tạo ra thách thức lớn trong việc tiếp cận kỹ thuật sản xuất hiện đại.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chi Lăng giai đoạn 2015 - 2018 theo tinh thần Quyết định 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Mục tiêu cụ thể là xác định các điểm nghẽn trong hệ thống đào tạo nghề, phân tích tác động của các yếu tố kinh tế - xã hội và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề giai đoạn 2019 - 2022. Về mặt ý nghĩa thực tiễn, việc tối ưu hóa công tác đào tạo nghề đóng vai trò đòn bẩy giúp tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm nhanh từ 23,66% năm 2015 xuống còn 13,71% năm 2018, đồng thời tạo tiền đề thúc đẩy tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mốc 52,7% vào năm 2020, tạo động lực phát triển kinh tế bền vững cho toàn huyện.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) và lý thuyết chuyển dịch cơ cấu lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Khung phân tích tập trung vào mối quan hệ tương hỗ giữa nâng cao năng lực nghề nghiệp và hiệu quả chuyển đổi sinh kế của cư dân địa phương. Mô hình đánh giá chất lượng đào tạo nghề được xây dựng dựa trên hai nhóm tiêu chí cốt lõi:
Thứ nhất, nhóm tiêu chí kiến thức và kỹ năng: Đánh giá mức độ tiếp thu lý thuyết, độ thành thạo thao tác kỹ thuật và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất thực tế.
Thứ hai, nhóm tiêu chí việc làm, năng suất và thu nhập: Đo lường tỷ lệ có việc làm sau học nghề, mức tăng năng suất lao động và mức cải thiện thu nhập của học viên trước và sau đào tạo.
Các khái niệm chính được làm rõ trong nghiên cứu bao gồm: Lao động nông thôn (người từ đủ 15 tuổi trở lên sinh sống và làm việc tại khu vực nông thôn), Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (quá trình giáo dục kỹ thuật, rèn luyện kỹ năng và thái độ làm việc nhằm tạo năng lực tự tạo việc làm hoặc tìm việc làm mới), và Chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong phạm vi 21 xã, thị trấn của huyện Chi Lăng giai đoạn 2015 - 2018:
Về quy mô và phương pháp chọn mẫu: Cỡ mẫu khảo sát sơ cấp bao gồm 350 cá nhân, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên. Mẫu khảo sát đại diện cho 3 nhóm đối tượng trọng tâm: 280 học viên đã hoàn thành các khóa học nghề, 40 cán bộ quản lý cấp huyện/xã và 30 giáo viên tham gia giảng dạy tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Chi Lăng. Phương pháp này đảm bảo tính đại diện cao cho các tiểu vùng địa hình núi đá vôi, vùng thung lũng dọc Quốc lộ 1A và vùng núi cao sa phiến.
Nguồn dữ liệu thứ cấp: Trích xuất từ Niên giám thống kê huyện Chi Lăng, báo cáo tổng kết của Phòng Lao động - Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Chi Lăng, Cục Thống kê tỉnh Lạng Sơn và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Đề án 1956.
Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian (tính tốc độ phát triển liên hoàn và định gốc) và phân tích tổng hợp đối chiếu. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác xu hướng biến động của các chỉ tiêu kinh tế - lao động như cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp giảm từ 35,33% năm 2015 xuống 29,65% năm 2018, cũng như đo lường cụ thể hiệu quả phân bổ ngân sách đào tạo nghề qua từng năm.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô và tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt mức tăng trưởng ổn định: Giai đoạn 2015 - 2018, tỷ lệ lao động qua đào tạo trên địa bàn huyện tăng từ 40,0% năm 2015 lên 47,9% năm 2018, đạt mức tăng bình quân khoảng 2,6 điểm phần trăm mỗi năm. Kết quả này phản ánh sự nỗ lực trong việc mở rộng mạng lưới dạy nghề ngắn hạn dưới 3 tháng cho người dân nông thôn.
Thứ hai, cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực gắn liền với hiệu quả dạy nghề: Số lượng lao động làm việc trong khối ngành nông - lâm - thủy sản giảm từ 21.287 người (chiếm 50,35% tổng lao động) năm 2015 xuống 19.886 người (chiếm 46,35%) năm 2018, tương đương mức giảm bình quân 6,41%/năm. Ngược lại, tỷ lệ lao động khối công nghiệp - xây dựng tăng từ 17,45% lên 19,45%, và thương mại - dịch vụ tăng từ 32,20% lên 34,22% trong cùng kỳ.
Thứ ba, công tác tuyên truyền và tư vấn học nghề có bước đột phá: Tổng số lượt tổ chức tuyên truyền, tư vấn nghề tăng 170%, từ 10 đợt năm 2015 lên 27 đợt năm 2018. Trong đó, số buổi tư vấn trực tiếp tại cơ sở tăng từ 6 buổi lên 15 buổi, giúp người lao động hiểu rõ quyền lợi hỗ trợ theo chính sách nhà nước.
Thứ tư, bất cập nghiêm trọng trong cơ cấu đội ngũ giáo viên dạy nghề: Sau khi sáp nhập thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Chi Lăng với 21 biên chế cán bộ, đơn vị chỉ có 02 giáo viên cơ hữu dạy nghề nông nghiệp và hoàn toàn không có giáo viên cơ hữu cho nhóm nghề phi nông nghiệp. Khi mở các lớp nghề cơ khí, điện dân dụng, may mặc hay sửa chữa máy nông nghiệp, trung tâm phụ thuộc 100% vào việc ký hợp đồng thỉnh giảng ngắn hạn với các đơn vị bên ngoài.
Thảo luận kết quả
Khi phân tích dữ liệu, diễn biến chuyển dịch cơ cấu lao động và kết quả đào tạo nghề có thể được minh họa trực quan thông qua biểu đồ cột chồng kết hợp đồ thị đường xu hướng. Biểu đồ này làm nổi bật mối tương quan đồng biến giữa số đợt tư vấn nghề nghiệp (tăng 2,7 lần) với tốc độ giảm nghèo đa chiều (tỷ lệ hộ nghèo giảm ấn tượng từ 23,66% tương đương 4.183 hộ năm 2015 xuống 13,71% tương đương 2.871 hộ năm 2018).
Nguyên nhân của những chuyển biến tích cực xuất phát từ việc chính quyền địa phương bám sát thực tế sinh kế, đưa vào giảng dạy các ngành nghề gắn trực tiếp với thế mạnh nông nghiệp bản địa như kỹ thuật thâm canh cây Na dai Chi Lăng (thuộc top 50 đặc sản trái cây ngon nhất Việt Nam), trồng bưởi, trồng nấm và nuôi ong. Phương pháp đào tạo "cầm tay chỉ việc", dành 2/3 thời lượng cho thực hành tại hiện trường đã giúp học viên dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức. Kết quả này có tính tương đồng cao với bài học kinh nghiệm tại huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) và huyện Văn Yên (tỉnh Yên Bái), nơi đào tạo nghề theo địa chỉ và nhu cầu thực tế giúp tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt trên 80%.
Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất tại Chi Lăng là cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành tại các cơ sở dạy nghề công lập còn thiếu thốn và lạc hậu. Đa số trang thiết bị là máy móc cũ, chưa đồng bộ với công nghệ sản xuất hiện đại tại các doanh nghiệp. Thêm vào đó, việc thiếu hụt giáo viên cơ hữu dạy nghề kỹ thuật phi nông nghiệp khiến các lớp đào tạo nghề cho khu vực công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chưa đạt chiều sâu, làm chậm quá trình thu hút đầu tư vào các cụm kinh tế trên địa bàn huyện.
Đề xuất và khuyến nghị
Để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chi Lăng giai đoạn 2019 - 2022, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:
-
Tăng cường năng lực quản trị và hoàn thiện quy hoạch đào tạo nghề: Ủy ban nhân dân huyện và Ban chỉ đạo Đề án 1956 huyện cần chỉ đạo 21 xã, thị trấn tổ chức điều tra, dự báo chính xác nhu cầu học nghề định kỳ hàng năm. Đặt mục tiêu cụ thể nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 47,9% năm 2018 lên 52,7% vào năm 2020 và đạt trên 60,0% vào năm 2025, đảm bảo phân bổ kinh phí đào tạo đúng đối tượng ưu tiên như hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.
-
Đổi mới chương trình giáo trình gắn với chuỗi giá trị nông sản chủ lực: Phòng Lao động - Thương binh, Xã hội - Dân tộc phối hợp với Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện chuẩn hóa giáo trình đào tạo theo hướng ngắn gọn, trực quan, tăng cường thực hành trên vườn đồi. Tập trung chuyên sâu vào kỹ thuật sản xuất Na dai VietGAP, chế biến bảo quản nông sản và kỹ thuật sửa chữa máy móc nông nghiệp. Phấn đấu đạt tỷ lệ trên 85% học viên sau học nghề tự tạo được việc làm hoặc áp dụng trực tiếp nâng cao thu nhập trên diện tích canh tác sẵn có.
-
Kiện toàn đội ngũ giảng viên và hiện đại hóa trang thiết bị dạy nghề: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện cần chủ động tuyển dụng hoặc đề xuất bổ sung từ 3 đến 5 biên chế giáo viên cơ hữu phụ trách nhóm nghề phi nông nghiệp trước năm 2021. Đồng thời, tranh thủ nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư mới các xưởng thực hành cơ khí, hàn, điện và phòng máy vi tính phục vụ giảng dạy.
-
Mở rộng liên kết ba nhà (Nhà nước - Cơ sở đào tạo - Doanh nghiệp): Ủy ban nhân dân huyện cần ban hành cơ chế khuyến khích các hợp tác xã, doanh nghiệp bao tiêu nông sản và doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tham gia đặt hàng đào tạo. Thiết lập thỏa thuận tiếp nhận lao động sau khóa học, hướng tới mục tiêu giải quyết việc làm mới ổn định cho khoảng 1.000 đến 1.200 lao động nông thôn mỗi năm trong giai đoạn 2019 - 2022.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
-
Cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện và cấp xã: Cung cấp cơ sở khoa học và hệ thống dữ liệu thực chứng cho cán bộ lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Lao động - Thương binh, Xã hội - Dân tộc huyện Chi Lăng trong việc xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực, triển khai hiệu quả các chính sách an sinh xã hội và quản lý các đề án dạy nghề tại 21 xã, thị trấn.
-
Ban giám đốc và cán bộ chuyên môn tại các Trung tâm GDNN - GDTX: Là tài liệu tham khảo thực tiễn giúp ban giám đốc và các tổ chuyên môn tối ưu hóa phương pháp tổ chức giảng dạy, xây dựng chương trình "cầm tay chỉ việc" và tháo gỡ điểm nghẽn về nhân sự giảng dạy trong điều kiện biên chế cơ hữu hạn chế.
-
Doanh nghiệp, Hợp tác xã và tổ chức phát triển nông nghiệp: Giúp các chủ trang trại, hợp tác xã sản xuất Na dai, cây ăn quả và doanh nghiệp chế biến nông sản tại tỉnh Lạng Sơn nắm bắt thông tin cung - cầu lao động, từ đó chủ động phối hợp liên kết đào tạo và tuyển dụng nguồn nhân lực có tay nghề phù hợp với dây chuyền sản xuất.
-
Học viên cao học và nhà nghiên cứu học thuật: Đóng vai trò là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế phát triển và Phát triển nông thôn. Luận văn cung cấp khung phương pháp luận hoàn chỉnh cùng bộ số liệu thống kê chi tiết giai đoạn 2015 - 2018 tại một huyện miền núi đặc thù.
Câu hỏi thường gặp
Đề án 1956 có đóng góp cụ thể nào đối với chuyển dịch cơ cấu lao động tại huyện Chi Lăng?
Đề án 1956 tạo bước ngoặt trong chuyển dịch cơ cấu nhân lực tại địa phương. Giai đoạn 2015 - 2018, số lao động làm nông nghiệp giảm từ 21.287 người xuống 19.886 người (giảm 4,0 điểm phần trăm trong cơ cấu). Các lớp dạy nghề đã cung cấp kiến thức thực tế, thúc đẩy lao động chuyển dịch sang công nghiệp - xây dựng (tăng lên 19,45%) và thương mại - dịch vụ (tăng lên 34,22%), giúp nâng GDP bình quân đầu người từ 24,57 triệu đồng lên 28,20 triệu đồng.
Khó khăn lớn nhất khi tổ chức đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số tại địa phương là gì?
Rào cản lớn nhất nằm ở trình độ dân trí không đồng đều và tập quán canh tác nhỏ lẻ của đồng bào Tày, Nùng (chiếm 82,9% dân số toàn huyện). Bên cạnh đó, Trung tâm GDNN - GDTX huyện chỉ có 02 giáo viên cơ hữu dạy nông nghiệp trong tổng số 21 biên chế, thiếu giáo viên am hiểu tiếng dân tộc và thiếu thiết bị thực hành hiện đại, gây khó khăn cho việc truyền đạt kỹ thuật mới.
Mô hình đào tạo nghề nông nghiệp nào mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất tại huyện Chi Lăng?
Mô hình đào tạo kỹ thuật trồng, chăm sóc và thâm canh cây Na dai theo tiêu chuẩn VietGAP mang lại giá trị kinh tế vượt trội nhất. Huyện có 45.048,16 ha đất sản xuất nông nghiệp phù hợp với cây ăn quả. Sau khóa học, học viên áp dụng quy trình thụ phấn nhân tạo và bón phân khoa học, giúp nâng cao năng suất, giữ vững thương hiệu Na dai Chi Lăng và trực tiếp nâng thu nhập của các hộ dân.
Làm thế nào để xác định chính xác nhu cầu học nghề của người lao động nông thôn?
Huyện áp dụng quy trình điều tra khảo sát kết hợp phiếu thu thập thông tin tại 21 xã, thị trấn thông qua các đợt tuyên truyền tư vấn (tăng từ 10 đợt năm 2015 lên 27 đợt năm 2018). Ban chỉ đạo tiến hành đối chiếu nhu cầu học viên với quy hoạch phát triển kinh tế địa phương và nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp để xây dựng danh mục 14 ngành nghề trọng điểm.
Mục tiêu đào tạo nghề và tạo việc làm của huyện Chi Lăng đến năm 2020 được xác định ra sao?
Theo kế hoạch, huyện phấn đấu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 52,7% vào năm 2020 trên tổng quy mô dân số khoảng 80.061 người. Huyện đặt mục tiêu tạo việc làm mới cho khoảng 1.000 đến 2.000 lao động mỗi năm, duy trì tốc độ giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên 3,31%/năm và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương đạt mức trên 13,8%/năm.
Kết luận
- Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề cho 42.904 lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chi Lăng.
- Ghi nhận kết quả nổi bật trong giai đoạn 2015 - 2018 với tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 40,0% lên 47,9%, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 23,66% xuống 13,71%.
- Chỉ rõ điểm nghẽn cốt lõi về sự thiếu hụt giáo viên cơ hữu nghề phi nông nghiệp và sự hạn chế của cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành tại trung tâm dạy nghề.
- Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp khả thi nhằm đạt mục tiêu 52,7% lao động qua đào tạo vào năm 2020 và trên 60,0% vào năm 2025 gắn với chuỗi giá trị đặc sản Na dai.
- Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc phục vụ công tác hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực và quản lý kinh tế nông thôn tại tỉnh Lạng Sơn.
Các cấp chính quyền và cơ sở đào tạo nghề cần khẩn trương triển khai đồng bộ lộ trình giải pháp trong giai đoạn 2019 - 2022 để biến nguồn lực lao động nông thôn thành động lực then chốt thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương phát triển nhanh và bền vững.