Luận văn: Tăng cường đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Chi Lăng

Luận văn nghiên cứu thực trạng và giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề hiệu quả cho lao động nông thôn, góp phần phát triển kinh tế bền vững.

Chuyên ngành

Đào tạo nghề

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2019

110
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1. Nông thôn và lao động nông thôn

1.1.1. Lao động nông thôn

1.1.2. Các đặc điểm của lao động nông thôn

1.2. Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.2.1. Khái niệm nghề

1.2.2. Khái niệm đào tạo nghề

1.2.3. Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.2.4. Vai trò của đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.3. Nội dung công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.3.1. Công tác lập dự toán, xây dựng kế hoạch đào tạo

1.3.2. Tổ chức đào tạo

1.3.3. Tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề cho các đơn vị dạy nghề công lập

1.3.4. Đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề

1.3.5. Xây dựng, hoàn chỉnh, đổi mới các chương trình, giáo trình dạy nghề cho lao động nông thôn

1.3.6. Giám sát, quản lý hoạt động đào tạo nghề

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.4.1. Nhóm nhân tố chủ quan

1.4.2. Nhóm nhân tố khách quan

1.5. Cơ sở thực tiễn về đào tạo nghề cho lao động nông thôn

1.5.1. Kinh nghiệm về đào tạo nghề cho lao động nông thôn ở một số địa phương

1.5.2. Những bài học rút ra cho huyện Chi Lăng

1.6. Các công trình nghiên cứu có liên quan

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHI LĂNG

2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Chi Lăng

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên

2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2. Khái quát nghề cho lao động nông thôn và cơ quan quản lý nhà nước về công đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chi Lăng

2.2.1. Nghề cho lao động nông thôn tại huyện Chi Lăng

2.2.2. Cơ quan quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chi Lăng

2.3. Thực trạng về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chi Lăng

2.3.1. Công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề và việc làm đối với lao động nông

2.3.2. Nhu cầu đào tạo nghề

2.3.3. Xây dựng kế hoạch đào tạo

2.3.4. Tổ chức đào tạo

2.3.5. Hệ thống cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo nghề

2.3.6. Nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước

2.3.7. Thực trạng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý

2.3.8. Thực trạng phát triển chương trình, giáo trình dạy nghề

2.3.9. Quản lý hoạt động đào tạo

2.4. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chi Lăng

2.4.1. Các yếu tố chủ quan

2.4.2. Các yếu tố khách quan

2.5. Đánh giá về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện Chi Lăng

2.5.1. Những ết quả đạt được

2.5.2. Những hạn chế

2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế

2.6. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CHI LĂNG

3.1. Quan điểm, định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Chi Lăng trong thời gian tới

3.1.1. Quan điểm, định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn của Việt Nam

3.1.2. Quan điểm, định hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn của huyện Chi Lăng

3.2. Những cơ hội và thách thức đối với công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chi Lăng

3.2.1. Thách thức

3.3. Nguyên tắc đề xuất giải pháp tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chi Lăng

3.4. Những giải pháp cơ bản nhằm tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chi Lăng

3.4.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp chính quyền

3.4.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức đào tạo nghề cho lao động nông thôn đối với sự phát triển của xã hội

3.4.3. Kêu gọi sự tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp, hợp tác xã trong việc liên kết đào tạo và đặt hàng đào tạo

3.4.4. Đầu tư cơ sở vật chất, bổ sung trang thiết bị, phương tiện phục vụ giảng dạy, học tập

3.4.5. Nâng cao chất lượng, số lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đào tạo nghề

3.4.6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát hoạt động dạy nghề cho lao động nông thôn

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kiến nghị với huyện Chi Lăng

Tóm tắt

I. Đào tạo nghề lao động nông thôn Chìa khóa phát triển

Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT) đóng vai trò nền tảng, quyết định sự thành công của quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động nông thônphát triển kinh tế - xã hội nông thôn. Đây không chỉ là nhiệm vụ nâng cao tay nghề mà còn là giải pháp chiến lược nhằm cải thiện thu nhập, giải quyết việc làm ở nông thôn và thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững. Chất lượng nguồn nhân lực khu vực nông thôn, nơi chiếm đa số dân số và lực lượng lao động của cả nước, chính là đòn bẩy để nâng cao năng suất, tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia và góp phần vào sự nghiệp xây dựng nông thôn mới. Nhận thức rõ tầm quan trọng này, Chính phủ đã ban hành Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg, tạo ra hành lang pháp lý và nguồn lực quan trọng để triển khai các hoạt động dạy nghề trên toàn quốc. Mục tiêu của đề án không chỉ dừng lại ở việc tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo, mà còn hướng đến việc đào tạo nghề gắn với thị trường, đảm bảo người học sau khi tốt nghiệp có thể tự tạo việc làm hoặc đáp ứng ngay yêu cầu của doanh nghiệp. Việc đầu tư bài bản vào công tác này sẽ tạo ra một thế hệ lao động mới có kiến thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp, sẵn sàng tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, từ đó thay đổi diện mạo kinh tế và xã hội tại các địa phương.

1.1. Góp phần phát triển kinh tế xã hội nông thôn bền vững

Vai trò cốt lõi của dạy nghề cho nông dân là trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn. Khi người lao động được trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật và kỹ năng thực hành, năng suất lao động trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng lên rõ rệt. Đồng thời, việc đào tạo các nghề phi nông nghiệp giúp đa dạng hóa ngành nghề, tạo ra nhiều việc làm tại chỗ, giảm áp lực di cư lên các đô thị lớn. Điều này không chỉ giúp tăng thu nhập cho từng hộ gia đình mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn một cách toàn diện, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao hơn, góp phần vào sự ổn định và thịnh vượng chung của địa phương.

1.2. Thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn hiệu quả

Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi sự dịch chuyển lao động từ lĩnh vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Đào tạo nghề cho LĐNT là công cụ hữu hiệu nhất để thực hiện quá trình này một cách trật tự và hiệu quả. Các chương trình đào tạo cung cấp cho người lao động những kỹ năng cần thiết để làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp hoặc các ngành dịch vụ mới. Quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn không chỉ là sự thay đổi về số lượng mà còn là sự nâng cao về chất lượng. Một lực lượng lao động được đào tạo bài bản sẽ dễ dàng thích ứng với công nghệ mới, quy trình sản xuất hiện đại, từ đó đáp ứng được yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường lao động trong và ngoài nước.

II. Thực trạng đào tạo nghề lao động nông thôn Thách thức

Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên thực tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức và tồn tại. Một trong những rào cản lớn nhất là nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế, vẫn mang nặng tư tưởng sản xuất nhỏ lẻ, chưa thấy được lợi ích lâu dài của việc học nghề. Báo cáo từ các địa phương cho thấy, công tác tuyên truyền, tư vấn học nghề dù được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao. Bên cạnh đó, hệ thống cơ sở dạy nghề ở nhiều nơi còn thiếu thốn, trang thiết bị lạc hậu, chưa theo kịp sự phát triển của công nghệ sản xuất thực tế. Đội ngũ giáo viên dạy nghề vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về kỹ năng thực hành, đặc biệt là kinh nghiệm làm việc tại các doanh nghiệp. Chương trình, giáo trình đào tạo còn cứng nhắc, chưa được cập nhật thường xuyên và chưa thực sự bám sát vào nhu cầu tuyển dụng của thị trường. Vấn đề lớn nhất, được nêu bật trong nhiều nghiên cứu, là sự thiếu kết nối chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng lao động sau đào tạo không đáp ứng được yêu cầu hoặc làm sai ngành nghề, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm niềm tin của người học vào các chính sách dạy nghề.

2.1. Hạn chế về nhận thức và nhu cầu học nghề thực tế

Một bộ phận không nhỏ lao động nông thôn có tâm lý ngại thay đổi, hài lòng với công việc nông nghiệp truyền thống dù thu nhập thấp. Họ chưa thực sự coi việc học nghề là một con đường để thay đổi cuộc sống. Nhu cầu học nghề đôi khi mang tính thời vụ, chỉ phát sinh vào lúc nông nhàn và thiếu định hướng rõ ràng về nghề nghiệp tương lai. Công tác khảo sát nhu cầu đào tạo tại cơ sở đôi khi còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào nguyện vọng thực chất của người lao động và dự báo của thị trường, dẫn đến việc mở lớp đào tạo không phù hợp, thu hút ít người tham gia hoặc chất lượng đầu ra không như kỳ vọng, ảnh hưởng đến tỷ lệ lao động qua đào tạo.

2.2. Bất cập về cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên dạy nghề

Nhiều trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện có cơ sở vật chất xuống cấp, máy móc, trang thiết bị thực hành vừa thiếu vừa lỗi thời so với công nghệ mà các doanh nghiệp đang sử dụng. Điều này khiến học viên sau khi ra trường bỡ ngỡ và doanh nghiệp phải tốn thêm chi phí đào tạo lại. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề thường có kiến thức lý thuyết tốt nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tiễn sản xuất. Việc thiếu các chính sách thu hút nghệ nhân, kỹ sư giỏi từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy khiến cho các bài học thiếu đi tính ứng dụng, chưa truyền tải được những kỹ năng và tác phong công nghiệp cần thiết cho người học.

2.3. Thiếu liên kết giữa đào tạo nghề và nhu cầu thị trường

Đây được xem là "nút thắt" lớn nhất của công tác đào tạo nghề cho LĐNT. Mối liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp còn lỏng lẻo. Doanh nghiệp chưa chủ động tham gia vào quá trình xây dựng chương trình, đặt hàng đào tạo và tiếp nhận học viên thực tập. Hậu quả là chương trình đào tạo mang nặng tính lý thuyết, xa rời thực tế, không đáp ứng được yêu cầu về kỹ năng và kỷ luật lao động của doanh nghiệp. Tình trạng đào tạo nghề chưa gắn với thị trường dẫn đến nghịch lý: doanh nghiệp thiếu lao động có tay nghề, trong khi nhiều lao động đã qua đào tạo lại không tìm được việc làm phù hợp, gây khó khăn cho mục tiêu giải quyết việc làm ở nông thôn.

III. Top giải pháp chính sách đào tạo nghề lao động nông thôn

Để vượt qua các thách thức, việc tăng cường công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đòi hỏi một hệ thống giải pháp đồng bộ từ cấp vĩ mô. Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách dạy nghề, đảm bảo tính nhất quán, minh bạch và dễ tiếp cận cho người dân. Các chính sách cần được thiết kế theo hướng khuyến khích cả người học và đơn vị sử dụng lao động, chẳng hạn như hỗ trợ học phí, tín dụng ưu đãi cho người học và ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp tham gia đào tạo và tuyển dụng lao động địa phương. Việc quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần được thực hiện một cách khoa học, tránh đầu tư dàn trải, tập trung nguồn lực vào các cơ sở trọng điểm có khả năng đào tạo các ngành nghề mũi nhọn của địa phương. Đặc biệt, nguồn vốn cho đào tạo nghề từ ngân sách nhà nước cần được phân bổ hợp lý, ưu tiên cho việc mua sắm trang thiết bị hiện đại và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách và sử dụng kinh phí phải được tăng cường để đảm bảo hiệu quả và ngăn chặn lãng phí, tiêu cực.

3.1. Hoàn thiện chính sách dạy nghề và quy hoạch mạng lưới đào tạo

Nhà nước cần rà soát, điều chỉnh các chính sách dạy nghề hiện hành cho phù hợp với tình hình mới, đặc biệt là các chính sách liên quan đến đối tượng LĐNT, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo. Cần xây dựng cơ chế linh hoạt cho phép các địa phương chủ động xác định danh mục nghề đào tạo dựa trên thế mạnh kinh tế và nhu cầu của doanh nghiệp trên địa bàn. Việc quy hoạch mạng lưới các cơ sở dạy nghề phải gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch các khu công nghiệp, cụm công nghiệp để tạo sự kết nối thuận lợi, hình thành các trung tâm đào tạo chất lượng cao theo vùng miền.

3.2. Tối ưu hóa nguồn vốn cho đào tạo nghề từ ngân sách nhà nước

Việc phân bổ nguồn vốn cho đào tạo nghề cần dựa trên hiệu quả đầu ra, tức là dựa vào tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo. Cần có cơ chế cấp phát ngân sách theo hình thức đặt hàng đào tạo, giao nhiệm vụ cho các cơ sở có uy tín thay vì cấp phát bình quân. Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức tư nhân đầu tư vào lĩnh vực dạy nghề thông qua các chính sách ưu đãi hấp dẫn. Việc sử dụng vốn phải được công khai, minh bạch và chịu sự giám sát chặt chẽ của cộng đồng để đảm bảo mỗi đồng vốn đầu tư đều mang lại hiệu quả thiết thực.

IV. Cách nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với thị trường

Giải pháp mang tính đột phá để nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn chính là siết chặt mối liên kết với thị trường lao động. Trọng tâm là việc đổi mới toàn diện chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy. Các chương trình, giáo trình dạy nghề phải được xây dựng trên cơ sở phân tích nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, với sự tham gia của chính các chuyên gia, kỹ sư từ doanh nghiệp. Thời lượng thực hành, thực tập tại cơ sở sản xuất phải được tăng cường, chiếm ít nhất 70% tổng thời gian khóa học. Phương pháp giảng dạy cần chuyển từ truyền thụ một chiều sang "cầm tay chỉ việc", tập trung vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Mô hình liên kết 4 nhà (Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp - Nhà nông) cần được triển khai mạnh mẽ và thực chất. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận lao động mà phải là một chủ thể tích cực trong toàn bộ quá trình đào tạo, từ khâu tuyển sinh, xây dựng chương trình, giảng dạy, đánh giá đến tuyển dụng. Hình thức đào tạo nghề theo đơn đặt hàng, theo địa chỉ việc làm cần được nhân rộng để đảm bảo đầu ra cho người học, tạo ra mô hình đào tạo nghề hiệu quả nhất.

4.1. Đổi mới chương trình giáo trình dạy nghề theo thực tiễn

Các cơ sở đào tạo cần chủ động loại bỏ những nội dung không còn phù hợp, cập nhật kiến thức, công nghệ mới vào chương trình, giáo trình dạy nghề. Thay vì sử dụng một bộ giáo trình chung cho cả nước, cần cho phép các trường xây dựng chương trình linh hoạt, phù hợp với đặc thù công nghệ của các doanh nghiệp trong vùng. Việc mời các chuyên gia, quản lý doanh nghiệp tham gia thẩm định và góp ý cho chương trình đào tạo là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo nội dung giảng dạy luôn bám sát thực tế, giúp người học có được những kỹ năng mà thị trường thực sự cần.

4.2. Triển khai mô hình liên kết 4 nhà và đào tạo theo đặt hàng

Để mô hình liên kết 4 nhà phát huy hiệu quả, cần có cơ chế rõ ràng về quyền lợi và trách nhiệm của mỗi bên. Nhà nước tạo hành lang pháp lý và chính sách hỗ trợ. Nhà trường chịu trách nhiệm tổ chức đào tạo. Doanh nghiệp cam kết tham gia xây dựng chương trình và tuyển dụng lao động. Nhà nông (người lao động) cam kết học tập nghiêm túc. Đặc biệt, cần đẩy mạnh hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng, ký kết hợp đồng đào tạo trực tiếp giữa cơ sở dạy nghề và doanh nghiệp. Mô hình này giúp giải quyết triệt để bài toán giải quyết việc làm ở nông thôn, vì người học được đảm bảo việc làm ngay từ khi bắt đầu khóa học.

V. Mô hình đào tạo nghề hiệu quả Bài học từ thực tiễn

Kinh nghiệm từ nhiều địa phương và quốc gia cho thấy, thành công của công tác dạy nghề cho nông dân luôn gắn liền với các mô hình sáng tạo và phù hợp với thực tiễn. Tại Việt Nam, một số tỉnh như Yên Bái, Bắc Kạn đã triển khai thành công mô hình đào tạo lưu động, đưa lớp học về tận thôn bản, dạy theo phương pháp "cầm tay chỉ việc", gắn lý thuyết với thực hành ngay trên đồng ruộng, vườn tược. Thị xã Phổ Yên (Thái Nguyên) lại thành công với mô hình liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp lớn, cam kết việc làm cho lao động bị thu hồi đất. Nhìn ra thế giới, Trung Quốc thành công với chiến lược "ly nông bất ly hương", phát triển doanh nghiệp hương trấn để giải quyết việc làm ở nông thôn ngay tại chỗ. Trong khi đó, Hàn Quốc tập trung đầu tư mạnh mẽ cho giáo dục phổ thông ở nông thôn làm nền tảng, sau đó đẩy mạnh đào tạo nghề quy mô lớn để cung ứng nhân lực cho các ngành công nghiệp xuất khẩu. Những mô hình đào tạo nghề hiệu quả này đều có điểm chung là xuất phát từ nhu cầu thực tế, có sự tham gia tích cực của doanh nghiệp và sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền. Đây là những bài học quý giá cho các địa phương trong quá trình tìm kiếm lời giải cho bài toán đào tạo nghề cho LĐNT.

5.1. Kinh nghiệm từ các mô hình đào tạo nghề hiệu quả trong nước

Các mô hình thành công trong nước thường có đặc điểm chung là tính linh hoạt và bám sát địa bàn. Mô hình "dạy nghề theo địa chỉ" tại Văn Yên (Yên Bái) hay "cầm tay chỉ việc" tại Ba Bể (Bắc Kạn) cho thấy hiệu quả của việc tổ chức các lớp học ngắn hạn, ngay tại xã, với nội dung tập trung vào các kỹ thuật canh tác, chăn nuôi mới hoặc các nghề thủ công, dịch vụ tại địa phương. Các mô hình này không chỉ tiết kiệm chi phí đi lại cho người học mà còn giúp họ áp dụng kiến thức ngay vào thực tế sản xuất, tạo ra hiệu quả kinh tế tức thì và củng cố niềm tin vào công tác dạy nghề cho nông dân.

5.2. Bài học từ chiến lược dạy nghề cho nông dân của quốc tế

Kinh nghiệm quốc tế cung cấp những bài học vĩ mô quan trọng. Bài học từ Trung Quốc cho thấy tầm quan trọng của việc phát triển công nghiệp địa phương (doanh nghiệp hương trấn) để tạo việc làm tại chỗ, giữ chân lao động. Kinh nghiệm của Hàn Quốc lại nhấn mạnh vai trò của một nền giáo dục phổ thông chất lượng làm tiền đề, kết hợp với chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề. Cả hai mô hình đều cho thấy, chính sách dạy nghề phải là một bộ phận không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tổng thể, đòi hỏi sự đầu tư dài hạn và đồng bộ từ chính phủ.

VI. Định hướng đào tạo nghề lao động nông thôn kỷ nguyên số

Bước vào kỷ nguyên số và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn cần có những định hướng mới để không bị tụt hậu. Tương lai của lao động nông thôn không chỉ gắn với đồng ruộng mà còn với nông nghiệp công nghệ cao, thương mại điện tử, du lịch sinh thái và các ngành dịch vụ hậu cần. Do đó, nội dung đào tạo cần được mở rộng, không chỉ là kỹ năng nghề mà còn là kỹ năng số, kỹ năng mềm và tư duy khởi nghiệp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, chẳng hạn như các khóa học trực tuyến, mô phỏng 3D, sẽ giúp phá vỡ rào cản về địa lý, đưa kiến thức mới đến với người lao động ở cả những vùng sâu, vùng xa. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích đào tạo nghề gắn với thị trường lao động trong tương lai, tập trung vào các lĩnh vực có tiềm năng phát triển như chế biến nông sản sâu, logistics, cơ khí nông nghiệp và vận hành các thiết bị tự động hóa. Việc chuẩn bị cho người lao động nông thôn một hành trang tri thức và kỹ năng hiện đại chính là sự đầu tư bền vững nhất cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại.

6.1. Dự báo các ngành nghề tiềm năng cho lao động nông thôn

Trong tương lai, nhu cầu lao động sẽ tập trung vào các nhóm ngành như: Nông nghiệp công nghệ cao (vận hành drone, hệ thống tưới tiêu thông minh); Chế biến và bảo quản nông sản theo tiêu chuẩn quốc tế; Du lịch cộng đồng và dịch vụ homestay; Thương mại điện tử (bán sản phẩm địa phương qua mạng); Logistics và quản lý chuỗi cung ứng nông sản. Các chương trình đào tạo nghề cho LĐNT cần đi trước một bước, xây dựng các module đào tạo cho những ngành nghề này để đón đầu xu hướng và nâng cao khả năng cạnh tranh cho lực lượng lao động.

6.2. Ứng dụng công nghệ số vào công tác đào tạo và dạy nghề

Công nghệ số mở ra cơ hội to lớn để nâng cao chất lượng và phạm vi của hoạt động dạy nghề. Cần xây dựng các nền tảng học tập trực tuyến (E-learning) với các bài giảng video, tài liệu điện tử dễ truy cập. Việc sử dụng công nghệ thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) để mô phỏng các quy trình sản xuất phức tạp sẽ giúp người học rèn luyện kỹ năng một cách an toàn và hiệu quả trước khi thực hành trên máy móc thật. Đồng thời, đào tạo kỹ năng số cơ bản như sử dụng máy tính, internet, các ứng dụng di động là yêu cầu bắt buộc để giúp lao động nông thôn không bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi cơ cấu lao động nông thôn.

05/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Nông thôn và lao động nông thôn 1.1 Nông thôn Cho đến nay, gần như chưa có định nghĩa nào về nông thôn được chấp nhận rộng rãi. Nếu cho rằng nông thôn là địa bàn có mật độ dân số thấp hơn thành thị thì chưa thoả đáng vì chỉ tiêu này khác nhau giữa các nước và ngay ở nước ta thì một số vùng nông thôn so với nhiều thị xã thì mật độ dân số không thấp hơn. Có nhiều ý kiến cho rằng nông thôn là địa bàn mà ở đó dân cư sống chủ yếu bằng nông nghiệp. Đây là ý iến có tính thuyết phục hơn nhưng chưa đầy đủ vì có nhiều vùng dân cư sống chủ yếu bằng tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu nhập từ nông nghiệp trở thành thứ yếu, chiếm một tỷ trọng rất thấp trong tổng thu nhập của dân cư, cụ thể: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã" Đây là hái niệm dùng nhiều chỉ tiêu để đánh giá giữa nông thôn và thành thị, vì vậy nó mang tính toàn diện hơn và được nhiều người chấp nhận hơn.

Với khái niệm về nông thôn như trên, chúng ta có thể phân tích những đặc trưng chủ yếu của vùng nông thôn và so sánh với thành thị. Thứ nhất, nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng chủ yếu là nông dân, là vùng sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, các hoạt động kinh tế chủ yếu nhằm phục vụ cho nông nghiệp và cộng đồng cư dân nông thôn. Đây là đặc trưng rất cơ bản của vùng nông thôn. Với mọi vùng nông thôn thì nông nghiệp luôn là ngành có vai trò quan trọng (kể cả lâm và ngư nghiệp).

Kể cả những vùng mà Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phát triển rất mạnh thì nông nghiệp vẫn có vai trò quan trọng. Bên cạnh đó, nông nghiệp còn thu hút nhiều ngành phát triển phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Thứ hai, nông thôn là vùng có cơ sở hạ tầng ém hơn thành thị, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá ém hơn. Đối với mọi quốc gia thì chỉ tiêu này là khá rõ 5 ràng.

Vùng nông thôn có địa bàn rộng lớn, địa hình phức tạp, trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp hơn nên hệ thống cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển sản xuất hàng hoá cũng thấp hơn. Thứ ba, nông thôn là vùng có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn hoá, hoa học và công nghệ thấp hơn thành thị vì thành thị thường là trung tâm văn hoá và inh tế của một vùng, do vậy cơ cấu kinh tế phát triển hơn, mức độ đầu tư cao hơn. Hơn nữa do điều kiện thuận lợi về kinh tế, văn hoá - khoa học và kỹ thuật mà thành thị tạo nên sức hút rất lớn đối với nguồn lao động tinh tuý, có trình độ cao ở nông thôn ra lập nghiệp, điều đó cũng góp phần hình thành trung tâm văn hoá, hoa học và công nghệ ở thành thị. Thứ tư, nông thôn mang tính đa dạng về tự nhiên, kinh tế và xã hội, đa dạng về quy mô và trình độ phát triển giữa các vùng hác nhau thì tính đa dạng cũng hác nhau.

Thứ năm, một đặc trưng hác của vùng nông thôn mà cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc phân biệt giữa thành thị và nông thôn đó là tính cộng đồng làng - xã - thôn - bản rất chặt chẽ. Phần lớn các vùng nông thôn có lịch sử phát triển lâu đời hơn thành thị, do đó tính cộng đồng làng xã rất vững chắc. Mỗi làng, mỗi thôn bản hay mỗi vùng nông thôn đều có phong tục tập quán và bản sắc văn hoá riêng. Điều đó giống như pháp luật bất thành văn mà mọi cư dân phải tuân theo.

Dân cư thành thị chủ yếu là từ nhiều nơi đến lập nghiệp nên phong tục tập quán và bản sắc văn hoá phong phú đa dạng, hông đồng nhất, còn nông thôn, những bản sắc văn hoá của mỗi làng bản được duy trì vững chắc hơn. Điều đó tạo nên truyền thống văn hoá của mỗi vùng, mỗi làng quê ở nông thôn, nó in đậm trong đời sống tâm hồn của mỗi con người sinh ra và lớn lên ở đó.2 Lao động nông thôn - Khái niệm lao động nông thôn Trước hết, chúng ta biết lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực, là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Theo đó, có nhiều cách hiểu khác nhau về nguồn lao động. Trong phạm vi bài khóa luận, em sử dụng khái niệm sau: Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động.

6 Theo pháp luật lao động Việt Nam hiện hành, độ tuổi lao động của người Việt Nam được quy định như sau: Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ 60 tuổi. Nữ từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi [4] Như vậy, chúng ta cần phân biệt nguồn lao động với dân số trong độ tuổi lao động. Cả hai thuật ngữ đều giới hạn độ tuổi lao động theo quy định, nhưng nguồn lao động chỉ bao gồm những người có khả năng lao động trong khi dân số trong độ tuổi lao động còn bao gồm bộ phân dân số trong độ tuổi lao động nhưng hông có hả năng lao động như tàn tật, mất sức lao động bẩm sinh hoặc do các nguyên nhân như chiến tranh, tai nạn giao thông, tai nạn lao động. Do vậy, nguồn lao động là một bộ phận của dân số trong độ tuổi lao động.

Lực lượng lao động là một bộ phận của nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, đang có việc làm và những người chưa có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc. “Lực lượng lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế) bao gồm toàn bộ những người từ đủ 15 tuổi trở lên đang có việc làm hoặc đang tìm iếm việc làm. Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế trong độ tuổi lao động) bao gồm những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi; nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55 tuổi) đang có việc làm hoặc không có việc làm (thất nghiệp) nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc”. [4] - Lao động nông thôn: Trên cơ sở những phân tích trên, khái niệm lao động nông thôn được hiểu như sau: Lao động nông thôn gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thuộc khu vực nông thôn đang làm việc trong các ngành: nông, lâm, ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng, dịch vụ và những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng vì lí do hác nhau hiện tại chưa tham gia hoạt động kinh tế.

Những người trong độ tuổi lao động nông thôn có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia lao động do các nguyên nhân như đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ gia đình, hông có nhu cầu làm việc, và những người thuộc tình trạng khác [6] 7 Như vậy, nguồn lao động nông thôn là một bộ phận của lực lượng lao động quốc gia, thuộc khu vực nông thôn và là nguồn lực quan trọng trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội nông thôn.3 Các đặc điểm của lao động nông thôn Do lao động nông thôn sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên chúng em đưa ra một số đặc điểm của người lao động nông thôn như sau: Một là: LĐNT có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi. Điều này ảnh hưởng đến nhu cầu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp. Hai là: Do tính chất công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý hay thói quen làm việc một cách không liên tục, thiếu sáng tạo của LĐNT. Ba là: LĐNT nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động.

Bốn là: LĐNT có ết cấu phức tạp hông đồng nhất và có trình độ rất khác nhau. Hoạt động sản xuất nông nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiều độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động. Năm là: Thu nhập của người LĐNT còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng núi, vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Sáu là: Trình độ của LĐNT thấp khả năng tổ chức sản xuất kém, ngay thực tế cả những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thấp hơn so với lao động trong các ngành kinh tế khác.2 Nghề và đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.1 Khái niệm nghề Nghề là một hái niệm trừu tượng, hó có một cách hiểu cụ thể và rõ ràng.

nhiều định nghĩa nghề được đưa ra xong chưa được thống nhất, chẳng hạn: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản 8 xuất hay do nhu cầu xã hội. Mặc dù hái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ hác nhau song chúng ta có thể thấy một số nét đặc trưng nhất định: Một là: Nghề là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại. Hai là: Nghề là sự phân công là động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.

Ba là: Nghề là phương tiện để sinh sống. Bốn là: Nghề là lao động kỹ năng, ỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có quá trình đào tạo nhất định. Nghề biến đổi một cách mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Theo giáo trình Kinh tế Lao động của trường Đại học Kinh tế quốc dân thì khái niệm nghề được hiểu như sau: Nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ kiến thức và kỹ năng mà một người lao động cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ