Tổng quan nghiên cứu

Huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là địa bàn kinh tế nông nghiệp trọng điểm vùng Đông Nam Bộ với đường biên giới dài 48 km tiếp giáp Vương quốc Campuchia. Tổng diện tích tự nhiên của huyện đạt 58.173,58 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tới 52.554,87 ha (tương đương 90% diện tích toàn huyện). Lực lượng lao động khu vực nông thôn chiếm trên 80% tổng nguồn nhân lực địa phương, với 66,21% lao động làm việc trực tiếp trong khối ngành nông - lâm - thủy sản. Tuy nhiên, phần lớn lực lượng này chưa qua đào tạo chính quy, trình độ tay nghề hạn chế và phương thức sản xuất chủ yếu dựa vào tập quán truyền thống. Tình trạng thiếu hụt lao động kỹ thuật cao đã tạo ra rào cản lớn trong việc nâng cao năng suất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn theo tinh thần Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Xuất phát từ thực tiễn trên, nghiên cứu tập trung phân tích toàn diện hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Châu Thành giai đoạn 2011 - 2014. Mục tiêu cụ thể là đánh giá thực trạng triển khai các chương trình dạy nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, đo lường hiệu quả giải quyết việc làm sau đào tạo, xác định các yếu tố cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho giai đoạn 2016 - 2020. Phạm vi không gian được thực hiện trọng điểm tại 4 xã đại diện: Phước Vinh, Hòa Thạnh, Biên Giới và Thanh Điền. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương hoàn thành mục tiêu đào tạo 6.000 lao động nông thôn trong giai đoạn 2016 - 2020 với tỷ lệ có việc làm đạt tối thiểu 80%, góp phần giảm nghèo bền vững và hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phân công lao động xã hội của nhà kinh tế học Adam Smith trong tác phẩm kinh điển "Của cải của các dân tộc" (1776), kết hợp với lý thuyết vốn nhân lực và mô hình chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa của Arthur Lewis. Theo các lý thuyết này, sự phát triển của lực lượng sản xuất bắt nguồn từ việc nâng cao kỹ năng lao động, trong đó giáo dục nghề nghiệp là công cụ then chốt để tái phân bổ nguồn nhân lực từ khu vực nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực phi nông nghiệp và nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Nghiên cứu vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn hóa từ Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 và Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13, phân định rõ các hình thức: đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo nâng cao và chuyển đổi nghề nghiệp. Khung phân tích xác định kết quả đào tạo chịu sự tác động đồng thời của 5 nhóm nhân tố chính:

  • Cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính đầu tư từ ngân sách nhà nước.
  • Năng lực, số lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý dạy nghề.
  • Chương trình, giáo trình đào tạo gắn liền với thực hành và nhu cầu thị trường.
  • Đặc điểm của đối tượng người học (trình độ học vấn, tâm lý, điều kiện kinh tế).
  • Nhận thức của xã hội và hệ thống cơ chế chính sách hỗ trợ việc làm tại chỗ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình kết hợp chặt chẽ giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra dữ liệu sơ cấp nhằm bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ hệ thống báo cáo chính thức giai đoạn 2011 - 2014 của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Châu Thành, Chi cục Thống kê huyện Châu Thành, Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành và báo cáo chuyên đề từ 5 cơ sở dạy nghề hoạt động trên địa bàn.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra chọn mẫu điển hình với quy mô mẫu 40 học viên tại 4 xã đại diện (10 học viên/xã). Phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích được lựa chọn nhằm bao quát các mô hình kinh tế nông thôn đặc trưng: xã Phước Vinh (thí điểm trồng lúa giống chất lượng cao), xã Hòa Thạnh (mô hình câu lạc bộ rau an toàn), xã Biên Giới (vùng chuyên canh khai thác mủ cao su) và xã Thanh Điền (mô hình xã nông thôn mới gắn liền nuôi trồng thủy sản và chuyển dịch sang công nghiệp - dịch vụ).

Phương pháp phân tích số liệu sử dụng kỹ thuật thống kê mô tả, thống kê so sánh chuỗi thời gian, phân tích tỷ lệ phần trăm và đánh giá cơ cấu chi phí đào tạo bình quân trên phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp này giúp mô tả rõ nét xu hướng biến động số lượng học viên, hiệu quả sử dụng ngân sách 4.294.877.414 đồng qua 4 năm và mức độ gắn kết giữa văn bằng chứng chỉ với cơ hội việc làm thực tế của lao động địa phương.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu thực nghiệm giai đoạn 2011 - 2014 tại huyện Châu Thành ghi nhận 4 phát hiện quan trọng:

Quy mô đào tạo và kinh phí thực hiện: Trong 4 năm, toàn huyện đã tổ chức đào tạo nghề cho 4.222 lao động nông thôn với tổng kinh phí giải ngân đạt 4.294.877.414 đồng, bình quân mỗi năm đào tạo 1.056 học viên với kinh phí 1,073 tỷ đồng. Quy mô người học tăng trưởng nhanh từ 855 người năm 2011 lên đỉnh điểm 1.437 người năm 2012 (tăng 68,07%), sau đó ổn định ở mức 954 người năm 2013 và 976 người năm 2014.

Cơ cấu ngành nghề đào tạo: Hoạt động dạy nghề tập trung chủ yếu vào nhóm nghề nông nghiệp truyền thống. Lĩnh vực chăn nuôi chiếm quy mô lớn nhất với 1.761 học viên (chiếm 41,71% tổng số học viên, kinh phí 1,380 tỷ đồng), tiếp theo là lĩnh vực khai thác và chế biến mủ cao su với 1.508 học viên (chiếm 35,72%, kinh phí 1,997 tỷ đồng), lĩnh vực trồng trọt có 708 học viên (chiếm 16,77%, kinh phí 612,84 triệu đồng). Lĩnh vực dịch vụ phi nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ với 245 học viên (chiếm 5,80%, kinh phí 305,02 triệu đồng) và chỉ mới bắt đầu được triển khai từ năm 2013.

Chi phí đào tạo bình quân trên một lao động có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm ngành: Khai thác, chế biến có chi phí cao nhất đạt 1.324.205 đồng/người; nhóm ngành dịch vụ đạt 1.245.000 đồng/người; trong khi ngành trồng trọt là 865.598 đồng/người và ngành chăn nuôi chỉ ở mức 783.707 đồng/người do đặc thù định mức thời gian đào tạo và trang thiết bị thực hành khác nhau.

Tỷ lệ giải quyết việc làm sau đào tạo: Tỷ lệ lao động có việc làm hoặc tự tạo việc làm sau đào tạo có xu hướng giảm dần theo thời gian, từ 80,0% năm 2011 (687/855 người) xuống 78,0% năm 2012 (1.128/1.437 người), 71,0% năm 2013 (681/954 người) và còn 70,0% năm 2014 (687/976 người). Dù tỷ lệ này vẫn đạt cận dưới chỉ tiêu tối thiểu 70% của Đề án 1956 giai đoạn 2011 - 2015, nhưng việc số lượng người có việc làm không tăng tương ứng với số học viên tốt nghiệp cho thấy thị trường việc làm tại chỗ bắt đầu bộc lộ dấu hiệu bão hòa đối với các nghề nông nghiệp truyền thống.

Thảo luận kết quả

Khi xem xét chi tiết hiệu quả từng ngành nghề qua bảng phân tích kết quả dạy nghề, sự phân hóa diễn ra rất rõ nét. Các lớp đào tạo kỹ thuật trồng lúa (tỷ lệ việc làm đạt từ 94% đến 100%), kỹ thuật trồng ớt (97%), trồng gừng (83%), nuôi gia cầm (72% đến 100%), nuôi heo (85% đến 93%) và nuôi cá nước ngọt (83% đến 100%) đạt hiệu quả chuyển hóa việc làm vượt trội. Nguyên nhân là do các nghề này gắn liền trực tiếp với tư liệu sản xuất sẵn có của hộ nông dân, người học có thể áp dụng ngay quy trình kỹ thuật mới để nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi trên chính diện tích canh tác của gia đình.

Ngược lại, một số ngành nghề ghi nhận tỷ lệ có việc làm rất thấp: kỹ thuật nấu ăn dịch vụ chỉ đạt 41% đến 44%, kỹ thuật nuôi ong đạt 37%, kỹ thuật trồng nấm đạt 39%, kỹ thuật chăm sóc cây cảnh đạt 50% và kỹ thuật trồng rau sạch đạt 48% (năm 2014). Nguyên nhân chính là công tác khảo sát nhu cầu thị trường trước đào tạo chưa sâu sát, thiếu hệ thống chuỗi cung ứng vật tư và bao tiêu sản phẩm đầu ra, đồng thời người học thiếu vốn đầu tư ban đầu để tự thiết lập mô hình kinh tế mới.

Mạng lưới đào tạo trên địa bàn huyện tính đến ngày 31/12/2014 chỉ gồm 5 cơ sở (Trung tâm GDTX huyện Châu Thành, Trung tâm Ứng dụng Tiến bộ KH&CN Tây Ninh, Công ty CP Doanh nhân Tây Ninh, Trường Trung cấp KT-KT Tây Ninh và Trung tâm Lái xe Thành Đạt). Đội ngũ giáo viên cơ hữu còn mỏng, phụ thuộc lớn vào 25 giáo viên thỉnh giảng (chiếm tỷ trọng cao tại Trung tâm GDTX và Công ty CP Doanh nhân Tây Ninh), dẫn đến việc bố trí lịch giảng dạy thiếu chủ động.

Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ cơ cấu và bảng ma trận kết quả, có thể thấy rõ sự mất cân đối nghiêm trọng: huyện Châu Thành tập trung tới hơn 94% nguồn lực vào nông nghiệp ngắn hạn dưới 3 tháng, trong khi cơ cấu lao động toàn huyện đang dịch chuyển sang công nghiệp - xây dựng (chiếm 14,06%) và dịch vụ (chiếm 19,73%). So sánh với kinh nghiệm đào tạo nghề theo địa chỉ tại Thị xã Tân Châu (An Giang) hay liên kết doanh nghiệp tại Thanh Hóa, công tác đào tạo nghề tại Châu Thành còn mang tính thụ động, chưa hình thành mối liên kết chặt chẽ ba bên giữa chính quyền, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sử dụng lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Châu Thành, hướng tới mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020 đào tạo 6.000 lao động với tỷ lệ có việc làm đạt trên 80%, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Tái cấu trúc danh mục ngành nghề đào tạo gắn với quy hoạch kinh tế địa phương: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn rà soát, cắt giảm ngay các lớp đào tạo có tỷ lệ việc làm dưới 50% (nuôi ong, trồng nấm, nấu ăn ngắn hạn). Tập trung mở rộng các ngành nghề phi nông nghiệp (lái xe, may công nghiệp, sửa chữa máy nông nghiệp, kỹ thuật chế biến) để nâng tỷ trọng đào tạo phi nông nghiệp từ 5,8% lên mức 66,7% (tương đương 4.000 lao động phi nông nghiệp trên tổng số 6.000 người theo mục tiêu 2016 - 2020). Thời gian thực hiện: hoàn thành đề án điều chỉnh trong quý II hàng năm.

Nâng cấp cơ sở vật chất và chuẩn hóa đội ngũ giảng viên: Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành kiến nghị Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phân bổ ngân sách đầu tư trang thiết bị thực hành hiện đại cho 5 cơ sở dạy nghề trên địa bàn. Yêu cầu các đơn vị tăng tỷ lệ giáo viên cơ hữu lên trên 60%, giảm phụ thuộc vào giảng viên thỉnh giảng, đồng thời tăng thời lượng thực hành lên tối thiểu 70% tổng thời gian khóa học. Timeline triển khai: giai đoạn 2016 - 2018.

Xây dựng mô hình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội đóng vai trò cầu nối, ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo và tuyển dụng trực tiếp với các doanh nghiệp cao su, nhà máy chế biến nông sản và các cơ sở công nghiệp tại khu vực tiếp giáp thành phố Tây Ninh. Chỉ tiêu cam kết tối thiểu 85% học viên sau khi tốt nghiệp lớp sơ cấp nghề được doanh nghiệp tiếp nhận làm việc. Timeline triển khai: định kỳ đầu mỗi năm tài chính.

Hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn và tiêu thụ sản phẩm sau đào tạo: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Châu Thành ưu tiên phân bổ nguồn vốn vay từ Quỹ quốc gia về việc làm cho 100% học viên thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số sau khi hoàn thành khóa học nghề nông nghiệp để đầu tư mở rộng chuồng trại, cây giống với lãi suất ưu đãi. Hội Nông dân và Hội Phụ nữ các xã thành lập các tổ hợp tác liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp sạch.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách cấp huyện/tỉnh: Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm chi tiết và khung đánh giá chính sách Đề án 1956, giúp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân các huyện biên giới có căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân bổ chỉ tiêu và ngân sách đào tạo nghề hàng năm.

Ban giám hiệu và đội ngũ quản lý tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Các trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên, trường trung cấp nghề có thể tham khảo ma trận đánh giá chương trình đào tạo, phương thức phân bổ chi phí bình quân học viên và giải pháp nâng cao tỷ trọng thực hành để cải tiến chất lượng giảng dạy.

Học viên cao học, sinh viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế: Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu thuộc chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế, Kinh tế nông nghiệp và Xã hội học lao động, đặc biệt là phương pháp luận đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của chính sách đào tạo nghề tại các địa bàn nông thôn đặc thù.

Doanh nghiệp, hợp tác xã và chủ trang trại khu vực nông thôn: Cung cấp góc nhìn thực tế về đặc điểm tâm lý, trình độ và năng lực tiếp thu kỹ thuật của lao động nông thôn, giúp các đơn vị xây dựng chiến lược tuyển dụng, đặt hàng đào tạo và sử dụng lao động hiệu quả tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu giải quyết khoảng trống học thuật nào trong quản lý đào tạo nghề tại địa phương?

Luận văn đã lượng hóa chi tiết cơ cấu chi phí bình quân trên một học viên cho từng nhóm ngành cụ thể (từ 783.707 đồng ngành chăn nuôi đến 1.324.205 đồng ngành khai thác cao su) và chỉ ra nghịch lý sụt giảm tỷ lệ việc làm từ 80% xuống 70% khi quy mô đào tạo mở rộng nhưng thiếu liên kết thị trường tại một huyện nông thôn biên giới.

Tại sao các ngành dịch vụ phi nông nghiệp có chi phí đào tạo cao nhưng tỷ lệ việc làm chỉ đạt 41% đến 44%?

Chi phí đào tạo nhóm ngành dịch vụ (1.245.000 đồng/người) cao do định mức vật tư tiêu hao và trang thiết bị thực hành lớn. Tuy nhiên, tỷ lệ việc làm thấp do thị trường nông thôn huyện Châu Thành chưa phát triển mạnh các dịch vụ ẩm thực công nghiệp, học viên sau tốt nghiệp thiếu vốn mở cơ sở độc lập và thiếu mạng lưới giới thiệu việc làm vào các nhà hàng, khu du lịch.

Kết quả đào tạo 4.222 học viên giai đoạn 2011 - 2014 đã đáp ứng chỉ tiêu của Đề án 1956 chưa?

Huyện Châu Thành đã hoàn thành 84,44% chỉ tiêu tổng thể (4.222/5.000 người) và giữ tỷ lệ có việc làm bình quân trên 70% theo mục tiêu giai đoạn 2011 - 2015. Tuy nhiên, cơ cấu đào tạo bị lệch nghiêm trọng: chỉ tiêu đề ra là 3.000 lao động phi nông nghiệp nhưng thực tế giai đoạn này chỉ đào tạo được 245 học viên dịch vụ và một số lớp lái xe ngắn hạn.

Điều kiện tự nhiên và vị trí biên giới của huyện Châu Thành ảnh hưởng như thế nào đến đào tạo nghề?

Huyện có 48 km đường biên giới, 90% diện tích là đất nông nghiệp và thổ nhưỡng phù sa cổ thích hợp cho cây cao su, lúa và hoa màu ngắn ngày. Điều này tạo thuận lợi tự nhiên cho việc dạy nghề trồng trọt, khai thác mủ cao su tại chỗ nhưng lại tạo rào cản lớn về hạ tầng giao thông và dịch chuyển lao động sang các khu công nghiệp tập trung.

Cỡ mẫu điều tra 40 học viên tại 4 xã có bảo đảm tính đại diện cho toàn huyện không?

Mẫu 40 học viên được phân bổ đồng đều (10 người/xã) tại 4 địa bàn đại diện hoàn toàn cho 4 tiểu vùng kinh tế - sinh thái của huyện Châu Thành: lúa giống (Phước Vinh), rau màu (Hòa Thạnh), cao su biên giới (Biên Giới) và nông thôn mới chuyển đổi công nghiệp (Thanh Điền), bảo đảm tính điển hình và độ tin cậy của thông tin phản hồi sơ cấp.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện thực trạng đào tạo 4.222 lao động nông thôn với tổng ngân sách 4.294.877.414 đồng tại huyện Châu Thành giai đoạn 2011 - 2014, khẳng định hiệu quả duy trì tỷ lệ việc làm sau đào tạo luôn đạt từ 70% đến 80%.
  • Chỉ rõ sự mất cân đối lớn trong cơ cấu đào tạo khi lĩnh vực chăn nuôi và khai thác mủ cao su chiếm tới 77,43% tổng số học viên, trong khi nhóm ngành phi nông nghiệp mới chỉ đạt 5,80%.
  • Xác định nguyên nhân các nghề có tỷ lệ việc làm dưới 50% (nuôi ong, trồng nấm, nấu ăn) xuất phát từ hạn chế trong khảo sát nhu cầu thị trường và thiếu vốn hỗ trợ sản xuất sau khóa học.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi, định hướng tái cơ cấu ngành nghề và tăng cường liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng cho giai đoạn 2016 - 2020 nhằm đạt mục tiêu đào tạo 6.000 lao động với tỷ lệ việc làm trên 80%.
  • Kế hoạch tiếp theo yêu cầu chính quyền huyện Châu Thành và các cơ sở đào tạo chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cơ hữu, đẩy mạnh chuyển đổi sang nhóm nghề kỹ thuật công nghiệp - dịch vụ và triển khai gói tín dụng việc làm ưu đãi ngay trong quý I hàng năm.

Các cơ quan quản lý, nhà nghiên cứu và cơ sở giáo dục nghề nghiệp quan tâm có thể khai thác chi tiết các bảng dữ liệu thống kê và mô hình phân tích thực nghiệm trong toàn văn luận văn thạc sĩ để ứng dụng vào công tác hoạch định phát triển nguồn nhân lực nông thôn tại địa phương.