phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục và cơ cấu nội dung chính gồm 3 chương, 11 tiết, 17 tiểu tiết. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã và tầm quan trọng của đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức cấp xã 1. Vị trí, vai trò và đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã 1.
Cán bộ, công chức cấp xã Luật Cán bộ công chức năm 2008 có hiệu lực từ ngày 01/01/2010 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” (Khoản 1 Điều 4) “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” (Khoản 2 Điều 4). “Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. 7 z Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã: - Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau: + Bí thư, phó bí thư đảng uỷ; + Chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân; Chủ tịch, phó chủ tịch uỷ ban nhân dân; + Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có Tổ chức Hội nông dân Việt Nam ); Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam. - Công chức cấp xã có 7 chức danh sau: + Trưởng công an; + Chỉ huy trưởng quân sự; + Văn phòng - thống kê; + Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; + Tài chính - kế toán; + Tư pháp - hộ tịch; + Văn hoá - xã hội.
Nghị định đã quy định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp xã theo phân loại cấp xã (loại 1 không quá 25 người, loại 2 không quá 23 người, loại 3 không quá 21 người). Cả nước hiện có 11.162 đơn vị hành chính cấp xã với tổng số cán bộ, công chức cấp xã là 256.608 người, bình quân 23 người/xã (cán bộ có 145.112 người, công chức có 111.496 người), trong đó: + Đối với cán bộ, số có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên chiếm 22,15%, cao đẳng 4,20%, trung cấp 36,13%, sơ cấp 6,46%, chưa đào tạo 31,06%; 8 z + Đối với công chức, số có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên chiếm 24,70%, cao đẳng 6,09%, trung cấp 59,42%, sơ cấp 2,16%, chưa đào tạo 7,63%. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã Về vai trò của cán bộ, Lênin đã chỉ ra rằng: “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [47, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là vấn đề then chốt.
Người khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [27, tr. Khẳng định vị trí, vai trò của người cán bộ, đòi hỏi người cán bộ phải có những đức tính tốt, Hồ Chí Minh cũng không cực đoan cho rằng cán bộ chỉ có tính tốt hay toàn tính tốt, mà cán bộ trước hết cũng là con người, có thể có cả tính xấu. Nhưng người cán bộ phải biết nhận biết, sửa chữa, loại bỏ tính xấu, phát triển tính tốt của mình; đồng thời Hồ Chí Minh cũng không cho rằng cán bộ là nhân tố quyết định tất cả, mà “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân” [27, tr.197], còn vai trò quyết định của cán bộ là ở chỗ nhận thức được để đi trước, làm gương, lãnh đạo. Vai trò hết sức quan trọng của cán bộ đối với sự nghiệp cách mạng còn thể hiện ở chỗ: nếu thiếu họ thì không có cách mạng, mục tiêu đề ra không thể hoàn thành, cán bộ có vai trò quyết định đối với công việc “Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [47, tr.
Cán bộ, công chức có vị trí, vai trò quan trọng đối với cơ quan, tổ chức. Cán bộ, công chức là thành viên, phần tử cấu thành tổ chức bộ máy. Cán bộ, công chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi hoạt động của tổ chức. Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào 9 z cán bộ.
Cán bộ, công chức tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng, cán bộ, công chức kém sẽ làm cho bộ máy tê liệt “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng tê liệt” [27, tr. Đối với công việc “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muôn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém” [27, tr. Đảng ta luôn coi trọng công tác cán bộ, đặc biệt là thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Đảng nhận định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng gắn liền với vận mệnh của Đảng, của chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [16, tr.
Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VII) khẳng định trong công cuộc đổi mới đất nước thì: Cán bộ hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới. Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở. Hệ thống chính trị ở cấp xã đảm nhiệm vai trò tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chính vì vậy, năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cở sở có vai trò hết sức quan trọng, quyết định sự thành - bại của mọi đường lối chủ trương, chính sách, pháp luật.
Chất lượng và hiệu quả thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn. Với vị trí là cấp cơ sở, vai trò của CBCC cấp xã được thể hiện với chức trách thực thi công vụ thể hiện ở các điểm sau: - Cán bộ, công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự 10 z điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với thực tiễn.
Vì vậy, vị trí, vai trò của công chức cấp xã là cầu nối giữa Đảng, Chính phủ và quần chúng nhân dân. - Cán bộ, công chức cấp xã là người gần gũi dân, sát dân nhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng tình cảm của dân để phản ánh lên các cấp chính quyền. Họ có vai trò trực tiếp đảm bảo kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đảm bảo trật tự xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật. Họ là những người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
- Ngoài ra Công chức cấp xã còn có vai trò: + Là lực lượng xung kích quyết định trong việc tổ chức thực hiện xây dựng Nông thôn mới ở cơ sở. Công chức cấp xã là người trực tiếp quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết về xây dựng NTM để cụ thể hóa thành Đề án, quy hoạch xây dựng tại địa phương; trực tiếp tham mưu, triển khai thực hiện việc huy động sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân trong việc phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, tích cực tham gia phong trào xây dựng NTM. + Là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tham mưu giúp chính quyền cơ sở thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước ở địa phương.