CHƯƠNG I: VÀI NÉT VỀ NEN NONG NGHIỆP ĐÔNG NAM A I. KHÁI QUÁT NỀN NÔNG NGHIỆP KHU VUC ĐÔNG NAMA: Bảng 3 : Diện tích canh tác của các nước Đông Nam Á so với điện tích tự nhiên( năm 1995 ) 10. Khu vực Đông NamÁ | 89. Bảng 4 : Dân số nông nghiệp và bình quân diện tích canh tác trên nhân khẩu nông nghiệp của các nước Đông Nam Á năm 1995 Dân số nông nghiệp | Bình quân diện tích canh tác ( 1000 người ) 0,51 ha.
Việt Nam là nước có bình quân diện tích canh tác trên nhân khẩu nông nghiệp thấp nhất khu vực : chỉ có 0,14 ha. Cho đến giữa thế kỷ XX, phần lớn các nước Đông Nam A đều là thuộc địa của các nước tư bắn đế quốc phương Tây. Ruộng đất của mỗi nước phan lớn tập trung trong tay một số địa chủ bản xứ và tư bản nước ngoài, còn đa số nông dân không có ruộng hoặc thiếu ruộng đất để sản xuất. Vì vậy, từ những năm 1950 sau khi các nước Đông Nam A giành được độc lập dân tộc, bắt đầu phát triển kinh tế, déu đã tiến hành cải cách ruộng đất với các nội dung và phương thức khác nhau.
Có nước tiến hành cải cách ruộng đất một lắn, có nước tiến hành 2 — 3 lần. Nhưng do những hạn chế, khó khăn riêng nên kết quả cải cách ruộng đất ở các nước rất khác nhau. Việt Nam đã tiến hành cải cách ruộng đất năm 1954 - 1955. Inđônêxia tiến hành cải cách ruộng đất năm 1960.
Philippin năm 1963 - 1971 và Thái Lan năm 1975. Ở Việt Nam trong cải cách ruộng đất, đã tịch thu, trưng thu toàn bộ ruộng đất của địa chủ, phân phối cho tất cả nông dân không có đất và thiếu đất trên nguyên tắc không bổi hoàn tiền đất cho địa chủ, và cũng không thu tiền đất khi giao đất cho nông dân. Kết quả, cải cách ruộng đất ở Việt Nam là triệt để nhất, xóa bỏ tận gốc chế độ ruộng đất bất công của thời phong kiến, đế quốc để lại, làm cho người cày có ruộng. Ở các nước khác thì thường tiến hành cải cách ruộng đất theo phương thức trưng mua số ruộng đất của các địa chủ trên mức hạn điển và đem lại cho những người nông dân thiếu đất.
Nhà nước trả tiền mua đất cho địa chủ, và thu tiền bán đất cho nông dân trong một thời gian nhất định, ưu tiên cho những tá điển đang lĩnh canh ruộng đất. Do đó, kết quả cải cách ở các nước này còn rất hạn chế, và cho đến nay cải cách ruộng đất vẫn chưa hoàn thành. Đến nay, ở phần lớn các nước Đông Nam A, ruộng đất chỉ có một phần thuộc sở hữu nhà nước, còn phần lớn thuộc sở hữu tư nhân của nông dân tiểu nông và của địa chủ, tư bản nhiều ruộng đất. Tổ chức lực lượng sản xuất nông nghiệp : Ở các nước Đông Nam Á, hình thức tổ chức lực lượng sản xuất chủ yếu kinh tế hộ nông dân quy mô nhỏ và vừa, doanh nghiệp nông nghiệp tư nhân ( trong nước và ngoài nước ) và doanh nghiệp nhà nước.
Kinh tế hộ nông dân có hai loại : -Hộ nông dân tiểu nông sản xuất tự cấp tự túc và chủ yếu là sản xuất lương thực, nông sản hàng hóa làm ra không đáng kể. -Hộ nông dân sản xuất nông san hàng hóa theo hướng kinh tế trang trại gia đình, các nông sản hàng hóa có thể là sản phẩm của chăn nuôi, có thể là sản phẩm của trồng trọt. Trong quá trình đi lên công nghiệp hóa, kinh tế trang trại có xu thế phát triển với các hình thức và quy mô khác nhau. Có loại trang trại gia đình của các hộ nông dân liên kết với doanh nghiệp tư nhắn trong nước hoặc nước ngoài hoặc doanh nghiệp nhà nước, thông qua hợp đồng kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp về cung cấp tư liệu sản xuất và bao tiêu sản phẩm.
Có loại trang trại gia đình của các hộ nông dân độc lập sản xuất kinh doanh, tự do tiêu thụ sản phẩm. Doanh nghiệp tư nhân sản xuất nông nghiệp ở Đông Nam Á là những cơ sở sản xuất nông sản hàng hóa tập trung quy mô lớn. Trước chiến tranh thế giới thứ II, các doanh nghiệp này là các dén điển của tư bản thực dân phương Tây như : Pháp, Anh, Hà Lan. Lợi nhuận thu được do việc chiếm đoạt đất đai, bóc lột nhân công bản xứ.
Từ những năm 50 đến nay, sau khi đành được độc lập, các đồn điển này trở thành doanh nghiệp nhà nước hoặc doanh nghiệp tư nhân của tư bản đân tộc. Phương thức sản xuất kinh doanh thay đổi từ sử dụng lao động làm thuê trước kia sang khoán đất đai, vật tư kỹ thuật cho các hộ công nhân và nông dân sản xuất và doanh nghiệp thu mua gom sản phẩm thô để sơ chế hoặc tinh chế và xuất khẩu, hình thành sự liên kết giữa các doanh nghiệp tiêu thụ và xuất khẩu nông sản với các hộ nông dân sản xuất. Doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp quốc doanh ở Đông Nam Á thường được xây dựng từ các đổn điển cũ của tư bản thực dân trước đây, hoặc mới xây dựng. Sau này, cũng thường không điều hành sản xuất theo kiểu sử dụng lao động làm thuê mà chuyển sang hợp đồng khoán sản phẩm cho các hộ gia đình là chủ yếu.
Ở Malaixia những năm 60 - 70, có trên 90 doanh nghiệp nông nghiệp quốc doanh sản xuất cao su, cà phê, dầu cọ, trong đó 21 cơ sở do chính quyền liên bang quản lí và 76 cơ sở do chính quyền địa phương quản lí. Từ đầu những năm 80, Malaixia đã thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh và chủ trương tư nhân hóa. Malaixia còn tổ chức các doanh nghiệp nông nghiệp quốc doanh ở một số vùng đất mới. Nhà nước đầu tư vào khai hoang, xây dựng cơ sở ha ting ( đường sá, nguồn nước, chợ, trường học, trạm y tế ) và cả nhà ở cho từng hộ gia đình.
Sau đó, đưa dân đến ki hợp đồng nhận đất sản xuất và trả tiền cho dan bằng sản phẩm khi cây trỗng cho thu hoạch va nhà nước đảm bảo bao tiêu sản phẩm. Mang lưới dich vụ kinh tế - kĩ thuật phục vụ nông nghiệp. Ở các nước đang phát triển Đông Nam Á, mạng lưới dịch vụ này bao gồm hệ thống dịch vụ ngân hang, tin dụng. bảo hiểm của nhà nước và tư nhân.
dịch vụ cung cấp vật tư kĩ thuật, bảo vệ thực vật, thú y, dịch vụ lưu thông, tiêu thụ nông sản trong nước và xuất khẩu, trong đó có hệ thống hợp tác xã phục vụ nông nghiệp. Ở Inđônêxia, vị trí của hợp tác xã loại này được ghi trong hiến pháp. Đến năm 1984, Inđônêxia có 24. 791 hợp tac xã cơ sở với trên 11 triệu xã viên, 535 hợp tác xã chăn nuôi với 41.
380 xã viên, 385 hợp tác xã nghề cá với 132. 500 xã viên làm dịch vụ tín dụng, cung cấp vật tư kĩ thuật tiêu thụ nông sản. 630 hợp tác xã nông nghiệp đa ngành và 4000 hợp tác xã chuyên ngành. Bình quân một hợp tác xã năm 1994 có 1200 thành viên, mỗi thành viên góp vốn cổ phan 200 — 500 pêsô( 10 — 25 USA ).
Xã viên hợp tác xã được vay vốn để sản xuất nông nghiệp, nhận một phần tiến mặt, một phần bằng vật tư kĩ thuật được hướng dẫn lập dự án sản xuất và hướng dẫn kĩ thuật. Ở Thái Lan, có 3000 hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp với 6 loại : hợp tác xã tín dụng và tiết kiệm, hợp tác xã tiêu thụ, hợp tác xã dịch vụ. với 3 cấp : hợp tác xd cơ sở ( xã, huyện ), liên hiệp hợp tác xã tỉnh và liên đoàn hợp tác xã quốc gia, gia nhập liên minh hợp tác xã quốc tế. 3- Khoa học - công nghệ nông nghiệp.
Trong vài thập kì cuối thế kỉ XX, nông nghiệp các nước Đông Nam Á đã từng bước chuyển dịch từ nông nghiệp cổ truyền sang nông nghiệp công nghiệp hóa. Trước hết là nghề trồng cây trồng, vật nuôi. Các nước đã nghiên cứu ứng dụng nhiều giống cây, con mới có năng suất cao. Đặc biệt, với lúa là cây lương thực được trồng chủ yếu ở Đông Nam A.
Viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI ( trụ sở chính ở Philippin ) đã tập hợp các giống lúa trong khu vực và thế giới, tạo ra những giống lúa mới được ứng dụng rộng rãi ở Philippin, Inđônêxia, Thái Lan, Việt Nam. Để đẩy mạnh việc nghiên cứu, lai tạo, nhân giống cây, con đáp ứng nhu cầu của sản xuất, các nước Đông Nam Á đã có chính sách khuyến khích các tổ chức tư nhân kết hợp với các cơ quan nhà nước tham gia sản xuất giống mới. Ví dụ : Ở Philippin và Thái Lan, khu vực tư nhân đã nghiên cứu tạo ra giống ngô lai đạt kết quả tốt. Tháng 6 - 1996, Xingapor bất đầu thu hoạch rau từ phương pháp trồng rau trên các tấm nhựa theo kĩ thuật Acroponics.
Kĩ thuật này do các nhà khoa học Hoa Ki và Ixraen thí nghiệm thành công, được các nhà khoa học Xingapo học tập và cải tiến phát triển đến mức có thể áp dụng trên thực tế. Theo kĩ thuật Acroponics, rau được trồng trên các tấm nhựa tổng hợp. Ré rau được ngâm vào trong các bể dung dịch đã có đủ chất khoáng để nuôi cây. Kĩ thuật cho phép thu hoạch rau xà lách có kích thước lớn trong vòng từ 25 đến 30 ngày.
trong khi đó nếu trồng trên đất thời gian thu hoạch có thể kéo dài đến 100 ngày. Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Xingapo đã trồng được các loại rau vốn chỉ thích hợp với khí hậu ôn đới như xà lách, cà chua, khoai tây. bằng cách tạo ra một hệ thống nhà kính không dùng máy điều hòa nhiệt độ. Anh sáng nhân tạo.
Để khắc phục tình trạng khí hậu nhiệt đới nóng của Xingapo. Đi đôi với nghiên cứu trong nước, nhiều nước Đông Nam Á đã nhập nội nhiều giống tốt của nước ngoài, trong đó có những giống bò thịt, bò sữa, lợn gà của các nước Au, Mi. Sth - Pham Thi Thank Theiy Trang 13 Whew Sutin TE Nghiin 1⁄7. - Horany Buda Yang Thủy lợi phục vụ trồng trọt được các nước Đông Nam A coi trọng, tuy nhiên tỷ trọng diện tích được tưới nước trong tổng số diện tích canh tác chưa cao.