Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƯỚC 1. Một số công trình nghiên cứu về định hướng CDCCKT theo hướng CNH, HĐH CDCCKT và vấn đề CNH, HĐH là những vấn đề được nhiều học giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trong lịch sử, Mark K (1909) [122] là một trong những học giả sớm bàn đến vấn đề định hướng CDCCKT thông qua phân tích, bàn luận trong học thuyết về phân công lao động xã hội và học thuyết về tái sản xuất xã hội.
Quá trình CDCCKT và những định hướng CDCCKT cũng được đề cập trong một số ấn phẩm của các học giả tiêu biểu như Clark C (1964) [101]; Fisher I và Allen G. Những quan điểm của các nhà kinh tế đó đã tạo nền tảng cho nghiên cứu về CDCCKT, các định hướng CDCCKT phù hợp với quá trình hiện đại hóa của nền sản xuất, phù hợp với sự phát triển của KH-CN và quá trình CNH diễn ra trong thế kỷ 20. Nhìn chung, các học giả tiêu biểu trên đưa ra các quan điểm về định hướng, quá trình vận hành của nền kinh tế và các yếu tố tác động đến quá trình CDCCKT. Tuy nhiên, các học giả chưa bàn sâu đến quá trình CDCCKT trong bối cảnh khi quan hệ kinh tế giữa các quốc gia ngày càng được mở rộng, các yếu tố tác động mang tính chất toàn cầu chi phối quá trình CDCCKT tại mỗi quốc gia.
CDCCKT theo hướng CNH, HĐH hiệu quả cần phải đạt được mục tiêu nâng cao mức tăng trưởng kinh tế trong điều kiện sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu vào. Trong lịch sử, các nhà kinh tế đã cố gắng nghiên cứu những yếu tố nằm sau quá trình tăng trưởng và CDCCKT để đưa ra những quan điểm về định hướng CDCCKT một cách hiệu quả. Trong các tác phẩm như Smith A.M (1936) [111], các học giả đều tập trung vào thảo luận, phân tích về vai trò, tầm quan trọng của các yếu tố tác động đến tăng trưởng và CDCCKT như: vai trò của vốn, lao động, tài nguyên thiên nhiên, KH- CN,. Đây là những quan điểm có giá trị nền tảng để các nhà nghiên cứu đi sau tiếp tục kế thừa và phát triển lý thuyết về tăng trưởng và CDCCKT.
6 Trong lịch sử đã xuất hiện "trường phái cơ cấu luận", những học giả tiêu biểu có thể kể đến Chenery R.S và Syrquin M (1986) [100] đã đi sâu nghiên cứu về sự phát triển kinh tế, các định hướng CDCCKT trong bối cảnh các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế đang phát triển. Để phát triển kinh tế trong bối cảnh HNKTQT, các nước cần phải tìm cho mình những cách CDCCKT một cách hiệu quả trên cơ sở phát huy được yếu tố nội lực, lợi thế so sánh và tận dụng được những lợi thế từ bên ngoài. Đối với các nước đang phát triển, vấn đề quan trọng là phải CDCCKT như thế nào để chuyển từ xã hội nông nghiệp truyền thống sang xã hội CNH, HĐH với ngành công nghiệp và ngành dịch vụ hiện đại làm nòng cốt. Đây là những quan điểm có giá trị thực tế để các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và quản lý kinh tế tham khảo để đề xuất điều chỉnh quá trình CDCCKT của mỗi quốc gia phù hợp với xu thế HNKTQT ngày càng sâu rộng.
Nhà kinh tế Porter M (1990) [132] đã phân tích quá trình CDCCKT và các định hướng CDCCKT phù hợp với xu thế phát triển kinh tế hiện đại, HNKTQT và tăng cường năng lực cạnh tranh: “Những yếu tố đầu vào của sản xuất như đất đai, lao động, vốn, tài nguyên và sự can thiệp của chính phủ thông qua trợ cấp, tỷ lệ lãi suất, rào cản thương mại lẫn nhau sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc xác định lợi thế so sánh của một quốc gia đối với phát triển kinh tế trong đó bao gồm quá trình CDCCKT”. Những quan điểm về lợi thế cạnh tranh của nhà kinh tế Porter M rất có giá trị đối với việc điều chỉnh cơ cấu sản xuất tại mỗi quốc gia để đảm bảo lợi thế cạnh tranh hay nói cách khác là tác động lớn đến định hướng CDCCKT tại mỗi quốc gia trong bối cảnh HNKTQT ngày càng phát triển. Một số công trình nghiên cứu về các yếu tố tác động đến CDCCKT theo hướng CNH, HĐH Nghiên cứu về tác động của KH-CN đối với CDCCKT: Các học giả Roy J. R (1993) [135], Maddison A (1991) [119] đã tổng kết kể từ những năm 1.700, những quốc gia có nền công nghệ hàng đầu với NSLĐ ngày một tăng lên đều đạt được sự tăng trưởng kinh tế nhanh.
Các học giả Jaffe A.M (1993) [109] và Lucas R (1988) [117] có chung quan điểm “Sự lan tỏa tri thức giữa các quốc gia phát triển giúp cho họ có lợi thế đầu vào đó là nguồn nhân lực trình độ cao, lợi thế này đóng góp vào 7 việc nâng cao NSLĐ và nâng cao các yếu tố năng suất tổng hợp từ đó đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế”. Đây là quan điểm có giá trị thực tiễn, điều này được khẳng định rõ trong bối cảnh ngày nay khi xu thế HNKTQT ngày càng phát triển. Vai trò của tri thức, KH-CN trong phát triển kinh tế và quá trình thay đổi cơ cấu sản xuất của một nền kinh tế ngày càng quan trọng. Nhà kinh tế học Ricardo D và Hartwell R.M (1971) [133] đã khẳng định “Một quốc gia sẽ thu được lợi nhuận ở mức cao nhất khi quốc gia đó tận dụng được lợi thế về công nghệ để sản xuất các loại hàng hóa, dịch vụ với giá cả thấp nhất và nhập khẩu những loại hàng hóa dịch vụ sẽ phải sản xuất với giá cao nhất tại quốc gia đó”.
Các học giả như Kuznets S (1967) [112] và Syrquin M (1998) [145] có chung quan điểm CDCCKT có mối liên hệ chặt chẽ với nền kinh tế tri thức, phát triển KH-CN. Các học giả Locke J.M (1996) [116]; Streeck W (1988) [142]; Frenkel S (1988) [107] đều nhận định những năm 1980 và 1990 là quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra trên quy mô toàn thế giới và sự ảnh hưởng của quá trình chuyển giao công nghệ có tác động lớn đến cơ cấu sản xuất của nhiều nền kinh tế. Nhìn chung, KH-CN có tác động lớn đến quá trình tăng trưởng và CDCCKT, vì vậy đã có rất nhiều học giả quan tâm nghiên cứu mối quan hệ này và họ phân tích về vai trò cũng như ảnh hưởng của KH-CN đối với CDCCKT ở các khía cạnh khác nhau. Các học giả đã đưa ra những kết luận nghiên cứu có giá trị tổng kết thực tiễn và phân tích một cách sâu sắc, khoa học về vai trò của KH-CN đối với quá trình tăng trưởng và CDCCKT, các quan điểm nêu trên chỉ là một số quan điểm tiêu biểu.
Nghiên cứu về vai trò của doanh nhân đối với quá trình CDCCKT theo hướng hiện đại và tăng trưởng kinh tế: Học giả Marcus D (2000) [123] đã đưa ra nhận xét “Sự tăng lên của các số lượng các nhà thương gia thường sẽ đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế”. Đây là quan điểm có giá trị khoa học được đúc rút từ nghiên cứu thực tiễn phát triển kinh tế của các nước và có ảnh hưởng lớn đến việc định hướng xây dựng đội ngũ doanh nghiệp ở mỗi quốc gia. Quá trình tăng trưởng và CDCCKT tại mỗi quốc gia có liên quan với sự phát triển của các doanh nghiệp và đội ngũ các nhà thương gia. Họ chính là những chủ thể đóng góp vào quá trình định hướng, đầu tư, quản lý và tổ chức sản xuất ra các sản phẩm của một nền kinh tế.
Vì thế, số lượng và chất lượng doanh nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng tác 8 động đến quá trình tăng trưởng và CDCCKT tại mỗi quốc gia. Nghiên cứu về vai trò của nguồn vốn đối với quá trình CDCCKT: Đối với quá trình tổ chức sản xuất và CDCCKT, nguồn vốn đầu tư vào quá trình sản xuất đóng vai trò quan trọng, một số nhà kinh tế như Veronika D và Césaire M (2002) [149], Levine R (1997) [114] đã nghiên cứu sâu về mối quan hệ giữa tài chính và tăng trưởng, CDCCKT. Các học giả đưa ra nhận định sự phát triển tốt của khu vực tài chính có những ảnh hưởng mạnh mẽ và tích cực đến tăng trưởng và CDCCKT. Đây là quan điểm có giá trị khoa học và thực tiễn giúp các nước định hướng cho quá trình tăng trưởng và CDCCKT gắn với sự phát triển ổn định khu vực tài chính và khả năng huy động các nguồn vốn cho phát triển.
Nghiên cứu về ảnh hưởng của công nghệ thông tin đến CDCCKT: Trong bối cảnh KH-CN phát triển mạnh và HNKTQT, vai trò của công nghệ thông tin ngày càng trở nên quan trọng đối với quá trình phát triển và CDCCKT của mỗi quốc gia. Các học giả Spreng D (1993) [140] và Stern D. I (1994) [141] đã có cùng quan điểm có ý nghĩa thực tiễn khi khẳng định thông tin là một trong những nhân tố cơ bản phục vụ cho quá trình sản xuất, thông tin đóng vai trò định hướng cho quá trình tăng trưởng và CDCCKT của từng quốc gia. Nghiên cứu về mối quan hệ giữa CDCCKT và cải cách thể chế: Các học giả North D.C (1981) [129] và Moe T (1984) [127] đều đánh giá cao vai trò quan trọng của thể chế đối với quá trình tăng trưởng và CDCCKT của các quốc gia thông qua việc nhấn mạnh quan điểm “Cải cách thể chế giúp cho nền kinh tế phát triển hiệu quả, tạo ra những khuyến khích hiệu quả để các chủ thể kinh tế tham gia vào quá trình phát triển kinh tế”.
Đây là những quan điểm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn làm cơ sở cho quá trình cải cách thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cũng như nâng cao trình độ quản lý kinh tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để tạo ra một nền thể chế phục vụ hiệu quả cho quá trình CDCCKT và phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách kinh tế vĩ mô: Học giả Sheng F (2003) [137] và Colin I và Bradford J (2003) [102] đã tổng kết quan điểm có giá trị thực tiễn khi phân tích vai trò của chính sách kinh tế vĩ mô với quá trình CDCCKT. Theo các nhà nghiên cứu này, cải cách hay chuyển đổi cơ cấu sản xuất đóng vai trò 9 quan trọng để đạt được hiệu quả của tăng trưởng kinh tế trong đó sự điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô đóng vai trò quan trọng.