Chương 1: CƠ SỞ LY LUẬN VE MOI LIEN HE GIỮA LONG TU TRAC ÁN VA HANH PHUC TAM LY CUA SINH VIEN 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về lòng ty trắc ẩn và hạnh phúc tâm lý 1. Các nghiên cứu về lòng tự trắc ân Trên cơ sở lý thuyết về khái niệm va các yếu tố cấu thành, trong báo cáo Development and validation of a scale to measure self - compassion, Neff (2003) đã đưa ra thang đo về lòng tự trắc ân - Self-Compassion Scale (SCS). Thang đo gồm 26 mệnh dé và gồm 6 tiêu thang do, chia thành 3 cặp: Lòng nhân ái với ban thân (self- kindness) — Sự tự chi trích (sclf-criucism); Tính tượng đồng nhân loại (common humanity} — Sự cô lập (isolation); Chánh niệm (mindfulness) - Đồng nhất quá mức (over-identification).
Trong ấn pham gốc (Neff, 2003a), tổng điểm SCS da chứng minh độ tin cậy cao, cũng như sáu thành tố của nó. Hơn nữa, độ tin cậy cao của điểm SCS đã được chứng minh trên nhiều loại khách thé khác nhau (Neff et al. Trong bai viết này, ba cũng đưa ra các lập luận chứng minh tính khoa học của thang đo vẻ độ tin cậy, phân tích các nhân tố. Đông thời bà cũng chỉ ra môi tương quan giữa thang đo này với các thang đo Lòng tự trọng của Rosenberg (Rosenberg Self- Esteem Scale), thang đo Sự tự chấp nhận của Berger (Berger’s Self-Acceptance Scale), thang đo Sự tự xác định ban thân (Self-Determination Scale) và thang đo các nhu cầu tâm lý cơ ban (Basic Psychological Needs Scale).
Nghiên cứu của Xavier, Pinto-Gouveia va Cunha trên 782 trẻ vị thành niên ở độ tuôi từ mười hai đến mười tám trong năm 2016 cho thay lòng tự trắc an có thé bảo vệ chủ thê khỏi các ảnh hưởng đến từ các hành vi tự hủy hoại. Từ đó đưa ra kiến nghị nhà trường nên có các chương trình nâng cao lòng tự trắc ân cho tất cả học sinh, sinh viên. Cùng năm 2016, nghiên cứu “Sir khác biệt về tuổi và giới tính trong tương quan giữa lòng tự trắc an và niềm hạnh phúc ở độ tuổi vị thành niên nghiên cứu trên một mau lớn” của Bluth, Campo, Futch và Gaylord trên độ tuôi vị thành niên cho thay nữ giới ở cuối tuôi vị thành niên có lòng tự trắc an thấp nhất so với nam giới ở mọi độ tuôi. Neff, Hseih va Dejitthirat trong bai bao “Long tr trắc an, mục tiêu hoc tập va sự đối phó với thất bại trong học tập” năm 2005 đã thực hiện hai nghiên cứu.
Nghiên 6 cứu thứ nhất trên 222 sinh viên Tâm lý học giáo dục cho thay lòng tự trắc an có tương quan thuận với các mục tiêu nắm vững kiến thức (mastery goals) và có tương quan nghịch với mục tiêu hoàn thành môn học (performance goals). Nghiên cứu thứ hai tiếp tục chỉ với 110 khách thé từ mẫu ban dau, được đánh giá là có cảm xúc rất không hai lòng về kết quả giữa kỳ của họ, cho thấy lòng tự trắc an có tương quan thuận với các chiến lược đối phó tập trung vào cảm xúc (emotion-focused coping strategies) và có tương quan nghịch với các chiến lược tránh né (avoidance-oriented strategies) (Neff, Hseih & Dejitthirat, 2005). Đến năm 2018 Ferrari, Yap, Scott, Einstein va Ciarrochi đã thực hiện nghiên cứu với tiêu dé “Long ti trắc an điều chỉnh moi liên kết giữa chủ nghĩa hoàn hảo và tram cảm ở cả vị thành niên và người lớn” trên hai mẫu là 541 học sinh trung học (độ tuôi trung bình là 14.1) và 515 sinh viên đại học (độ tuôi trung bình là 25. Kết quả cho thay lòng tự trắc ân làm giảm mức độ tương quan giữa chủ nghĩa hoan hảo không phù hợp (maladaptive perfectionism) va tram cảm trên cả hai mẫu.
các tác giả đã kết luận rằng dé làm giảm sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hoàn hảo không phù hợp, thi lòng tự trắc ân có thé là một sự can thiệp hợp lý (Ferrari, Yap, Scott, Einstein & Ciarrochi, 2018). Tại Việt Nam, lòng tự tric an đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu với những nghiên cứu khoa học về chủ đề nay do Tran Thu Huong và Tran Minh Điệp thuộc khoa Tâm lý học, Đại học Quốc gia Hà Nội công bố vào năm 2017. Nghiên cứu Đánh giá lòng tự trắc an: Mot nghiên cứu định lượng ở sinh viên Việt Nam đã bước đầu thích ứng thang đo lòng tự trắc an trên khách thẻ sinh viên Việt Nam và chi ra rằng: "Đẻ đạt tới sự tự trắc ân, Chánh niệm là thành tố được sinh viên thực hành nhiều nhất và sinh viên it thực hành Nhân ái với bản thân trong cuộc song. Có mối tương quan có ý nghĩa giữa các thành tố của lòng tự trắc an và giữa chúng với lòng tự trắc an nói chung.
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các cấu thành trong thang đo SCS-26 giữa các nhóm giới tính, ngành học, vùng miền." (Trần Thu Hương & Tran Minh Điệp, 2017, tr. Nghiên cứu năm 2019 “long tc trắc ẩn của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phó Hồ Chỉ Minh” của các tác giả Nguyễn Hồng Huân, Trần Văn Toản, Trần Thu Hạnh và Trần Thị Diễm Quỳnh trên khảo sát trên 240 sinh viên trường Đại học Sư phạm Thành phố Hỗ Chi Minh cho thấy các sinh viên nhìn chung có lòng tự trắc an 7 ở mức độ trung bình và mức độ của các thành tô của lòng tự trắc an là lòng nhân ái với bản thân, tinh tương đồng nhân loại và chánh niệm cũng ở mức trung bình. Ngoai ra lòng tự trắc ân của các sinh viên có tương quan thuận với cảm nhận hạnh phúc, với tư duy tích cực vượt qua các biến cô trong cuộc sông va với khả năng vượt qua các cảm xúc tiêu cực. Đến năm 2020, các tác giả này tiếp tục thực hiện nghiên cứu “Xay dung bai tập rèn luyện lòng tự trắc ẩn cho sinh viên Đại học”.
Kết quả của nghiên cứu cho thay răng bai tập rèn luyện lòng tự trắc ân được đưa vào thực nghiệm có tác động ở một mức độ nhất định đối với sự phát trién long tu trắc an. Bên cạnh đó, việc rèn luyện lòng tự trắc an có tác động tích cực đến việc giảm các chỉ số tram cảm, lo âu và stress đối với những khách thé có mức độ tram cảm vừa và nhẹ. Năm 2019, trong luận văn Thạc sĩ của tác giả Lương Minh Huyền, đã nghiên cứu về mối liên hệ giữa lòng tự trắc an và mức độ tram cảm của sinh viên một số trường Đại học, Cao đăng tại Thành phó Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên các trường Đại học, Cao đăng ở Hà Nội có mức độ tự trắc ân nói chung va đáp ứng các thành tổ nói riêng của lòng tự trắc ân hau như đều nằm ở mức trung bình.
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thong kê giữa nam giới và nữ giới, quê quán hay giữa sinh viên các năm ở cá mức độ lòng tự trắc an nói chung và ba thành tổ nói riêng. Lòng tự trắc an nói chung và 2 thành tố là Nhân ái với ban thân và Chánh niệm đều có mỗi quan hệ nghịch với mức độ tram cảm của sinh viên. Thanh tổ tính tương đồng nhân loại có p > 0. cho thấy không có sự tương quan với trầm cảm.
Kết quả phân tích trường hợp cho thấy yếu tố gia đình có ảnh hưởng rat lớn đến lòng tự trắc ân và mức độ tram cảm của sinh viên. Khi nhận được sự ủng hộ. hỗ trợ từ gia đình sinh viên có xu hướng tăng lòng tự trắc ẩn và làm giảm mức độ trầm cảm. Ngược lại, khi sinh viên chữa trị được các triệu chứng của trầm cảm, lòng tự trắc ân của họ cũng được gia tăng, họ tin vào khả năng của bản thân và có suy nghĩ tích cực, lạc quan hơn trước cuộc sông (Lương Minh Huyền, 2019).
Bai báo khoa về học “Lông tr trắc ẩn của giáo viên và tác động của nó tới các biểu hiện tram cam, lo âu và căng thăng" của tác gia Trần Thị Minh Đức và một số tác giả khác, nghiên cứu trên 217 giáo viên mam non va tiêu học, sử dụng thang do SCS- 26 và DASS-21. Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa trình độ học van và môi trường giảng day với lòng tự trắc an. Lòng tự trắc ẩn có mỗi tương quan chặt chẽ va § dự báo kha năng tác động đáng kẻ tới các biểu hiện trầm cam, lo âu và căng thắng ở giáo viên. Các nghiên cứu về hạnh phúc tâm lý Một trong những mô hình hạnh phúc tâm lý được sử dụng phô biến hiện nay là cau trúc sáu chiều kích do Carol Ryff đề xuất năm 1989 trong nghiên cứu "Có phải hạnh phúc là tất cả? Khám phá ý nghĩa của hạnh phúc tâm lý" (Happiness is everything, or is it? Explorations on the meaning of psychological well-being).
Theo đó, sáu nhân tổ của hạnh phúc tâm lý bao gồm sự tự chấp nhận, mỗi quan hệ tích cực với người khác, sự tự chủ, quản lý môi trường, mục đích trong cuộc sống vả sự phát triển cá nhân (Ryff, 1989). Osborne và Hurling (2009) và nghiên cứu "Hai khái niệm hay hai cách tiếp cận? Một phân tích bifactor vẻ hạnh phúc tâm lý và cảm nhận hạnh phic" (Two concepts or two approaches? A bifactor analysis of psychological and subjective well- being) của Chen, Jing, Hayes và Lee (2013). Từ các nghiên cứu. chat lượng do lường tâm lý của thang đo hạnh phúc tâm lý đã được thử nghiệm cho các phiên bản 3 items/mat, 9 items/mặt và 14 items/mặt, theo đó có sự khác biệt về giá trị nhân tô vả nội dung giữa các phiên bản (van Dierendonck, 2003).
Các nghiên cứu còn sử dụng nhiều phương pháp thống kê khác nhau như phân tích nhân tổ khám phá, phân tích nhân tố xác nhận hay mô hình bifactor trên các mẫu đại diện khi kiêm tra sự khác biệt giữa hai mô hình hạnh phúc. Theo đó, cam nhận hạnh phúc và hạnh phúc tâm lý có liên quan chặt chẽ ở cấp độ nhân tô hạnh phúc tông quát nói chung bền cạnh các nhân tố riêng biệt khi xem xét từng mô hình (Chen, Jing, Hayes và Lee, 2013; Linley, Maltby, Wood, Osborne va Hurling, 2009). Gan đây, đánh giá tông quan về hạnh phúc tâm lý của Carol Ryff (2014) trong "Nhìn lại hạnh phúc tâm lý: Những tiến bộ trong khoa học vả thực hành eudaimonia” (Psychological well-being revisited: Advances in the science and practice of eudaimonia) đã xem xét những công trình nghiên cứu có liên quan đến cấu trúc hạnh phúc tâm lý nói riêng và các chủ dé chính xoay quanh hạnh phúc tâm lý.