Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xã hội hiện đại, biến động của môi trường sống tạo ra nhiều áp lực và căng thẳng tâm lý đối với từng giai đoạn phát triển của cá nhân. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2023), cô đơn đã trở thành mối lo ngại sức khỏe cộng đồng và là một trong những mối đe dọa cấp bách đối với sức khỏe toàn cầu. Ở lứa tuổi thanh niên sinh viên, việc chuyển tiếp môi trường sống từ gia đình sang đại học, sự kỳ vọng gia đình và áp lực xã hội dễ làm nảy sinh cảm giác cô đơn; nhiều sinh viên dù sống cùng gia đình vẫn trải nghiệm trạng thái này.
Các nghiên cứu quốc tế ghi nhận tỷ lệ cô đơn đáng kể ở thanh thiếu niên: Jamaica và Cộng hòa Dominica là 18,1% (Pengpid & Peltzer, 2021); 7 quốc gia ASEAN có 7,8% thanh thiếu niên thường xuyên và 31,3% thỉnh thoảng cảm thấy cô đơn (Peltzer & Pengpid, 2017). Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Diễm My, Huỳnh Văn Sơn và Trần Chí Vĩnh Long (2020) cho thấy 22,7% thanh thiếu niên có mức độ cô đơn cao và 9,6% có mức độ rất cao. Đồng thời, cô đơn được ghi nhận có mối liên hệ với hiện tượng trì hoãn trong học tập (Muhammad Khairul Anam & Imanuel Hitipeuw, 2022). Hiện tượng trì hoãn học tập chiếm từ 30% đến 60% ở sinh viên đại học (Rabin, 2011; Steel, 2007), kéo theo nhiều hệ quả tiêu cực như giảm sút thành tích học tập, gia tăng lo âu, căng thẳng, mặc cảm tội lỗi và trầm cảm. Tại Việt Nam, các công bố khoa học đi sâu vào mối quan hệ trực tiếp giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn học tập của sinh viên còn tương đối ít.
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định thực trạng cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập của sinh viên; trên cơ sở đó, đánh giá mối quan hệ giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập của sinh viên một số trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến đề tài: cảm nhận cô đơn, trì hoãn trong học tập, mối quan hệ giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn học tập, đặc điểm tâm lý của sinh viên.
- Khảo sát thực trạng và làm rõ mối quan hệ giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập của sinh viên.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập của sinh viên.
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên các trường đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Tiếp cận cô đơn theo quan điểm Tâm lý học xã hội (Perlman & Peplau, 1984; West, 1986; Russell, 1996) dưới khía cạnh trải nghiệm nhận thức chủ quan; tiếp cận trì hoãn học tập dưới góc độ sự trì hoãn chủ động (Steel & Klingsieck, 2016).
- Phạm vi địa bàn và khách thể: 856 sinh viên đang theo học tại 5 cơ sở giáo dục đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh: Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM, Trường Đại học Mở TP.HCM, Trường Đại học Công nghệ Thông tin (ĐHQG-HCM), và Trường Đại học Kinh tế TP.HCM.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Cảm nhận cô đơn: Được định nghĩa là nhận thức của cá nhân về việc bản thân đang thiếu hụt, ngắt kết nối với các mối quan hệ xã hội hoặc thiếu đi những mối quan hệ chất lượng (Perlman & Peplau, 1984; Russell, 1996). Khái niệm này bao hàm cả phương diện cảm xúc (cô đơn xã hội và cô đơn cảm xúc theo Weiss, 1973; DiTommaso & Spinner, 1993) và phương diện nhận thức chủ quan về sự khác biệt giữa quan hệ xã hội thực tế với mong muốn.
- Trì hoãn trong học tập: Được xác định là hành vi chậm lại, hoãn lại hoặc lảng tránh bắt tay vào thực hiện các nhiệm vụ, yêu cầu, mục tiêu học tập (Steel & Klingsieck, 2016). Khóa luận xem xét cấu trúc trì hoãn dựa trên 6 biểu hiện theo McCloskey (2011): niềm tin tâm lý về khả năng làm việc dưới áp lực, mất tập trung, chịu sự tác động của các yếu tố xã hội, kỹ năng quản lý thời gian kém, thiếu sáng kiến và tính lười biếng/ác cảm với nhiệm vụ.
Bảng so sánh hai dạng thức trì hoãn trong học tập
| Tiêu chí |
Trì hoãn thụ động (Passive Procrastination) |
Trì hoãn chủ động (Active Procrastination) |
| Định nghĩa |
Sự chủ ý tạm hoãn vô lý hoặc mất tự chủ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập (Chu & Choi, 2005). |
Sự chủ ý tạm hoãn nhiệm vụ học tập như một chiến lược để đạt kết quả tốt hơn, kiểm soát tiến trình thực hiện (Chu & Choi, 2005). |
| Động cơ thực hiện |
Trốn tránh, thiếu khả năng ra quyết định, ứng phó tạm thời với căng thẳng và cảm xúc tiêu cực (Corkin et al., 2011). |
Tin tưởng vào khả năng hoàn thành tốt nhất công việc tại một "thời điểm tối ưu chủ quan" (Silver & Sabini, 1981). |
| Hệ quả thực tế |
Làm giảm chất lượng học tập, gia tăng cảm giác tội lỗi, lo âu và suy giảm sức khỏe tâm thần. |
Thích nghi với áp lực thời gian, tạo động lực thúc đẩy bản thân tập trung và phát huy tối đa năng lực làm việc. |
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa các tài liệu khoa học, bài báo tạp chí chuyên ngành trong và ngoài nước liên quan đến cô đơn và hành vi trì hoãn.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
- Thang đo Cảm nhận cô đơn (UCLA Loneliness Scale - Version 3) của Russell (1996), đã được GS. Trần Thị Minh Đức (2018) chuẩn hóa và đánh giá độ tin cậy trên khách thể sinh viên Việt Nam.
- Thang đo Trì hoãn học tập dạng rút gọn (Academic Procrastination Scale - Short Form, APS-SF) của McCloskey & Yockey (2016), đã được kiểm định độ tin cậy tại Việt Nam qua nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Bé và cộng sự (2023).
- Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc trên nhóm khách thể sinh viên điển hình nhằm thu thập dữ liệu định tính, làm rõ nguyên nhân và cơ chế tác động giữa cảm nhận cô đơn và hành vi trì hoãn.
- Phương pháp thống kê toán học: Xử lý và phân tích dữ liệu trên phần mềm SPSS phiên bản 26.0; sử dụng thống kê mô tả (tần số, phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn) và thống kê suy diễn (kiểm định T-test mẫu độc lập, phân tích phương sai One-way ANOVA, hệ số tương quan Pearson $r$).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về mối quan hệ giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 1 hệ thống hóa các luận điểm học thuật nền tảng về tâm lý học thanh niên sinh viên và hai biến số nghiên cứu:
- Tổng quan nghiên cứu: Làm rõ các công trình quốc tế và trong nước về cảm nhận cô đơn (hướng tiếp cận tâm lý học xã hội và tâm lý học lâm sàng) cùng hành vi trì hoãn học tập. Xác định khoảng trống nghiên cứu về mối quan hệ tương hỗ giữa cô đơn và trì hoãn tại các trường đại học ở Việt Nam.
- Lý luận về cảm nhận cô đơn: Khái quát hóa bản chất của cô đơn là một trải nghiệm nhận thức mang tính chủ quan. Phân loại cô đơn theo Weiss (cô đơn xã hội, cô đơn cảm xúc), DiTommaso & Spinner (cô đơn thân mật, cô đơn gia đình), Moustakas (cô đơn hiện sinh, cô đơn lo âu), và thời lượng (nhất thời, tình huống, mãn tính). Phân tích các yếu tố ảnh hưởng gồm yếu tố chủ quan (tuổi tác, giới tính, sức khỏe thể chất, sức khỏe tâm thần, các nét tính cách hướng ngoại và nhiễu tâm) và yếu tố khách quan (việc làm, tần suất tương tác trên mạng xã hội, hỗ trợ từ gia đình và hoạt động xã hội).
- Lý luận về trì hoãn học tập: Phân tích bản chất của hành vi trì hoãn (tính tạm hoãn, tính tự chủ, hoạt động đã định trước và tính vô lý); đối chiếu hai loại hình trì hoãn chủ động và thụ động; hệ thống 6 khía cạnh biểu hiện theo McCloskey (2011). Tổng hợp các tác động của trì hoãn đối với kết quả học tập và sức khỏe tinh thần.
- Đặc điểm tâm lý thanh niên sinh viên: Phân tích sinh viên trong độ tuổi 18–24, giai đoạn hoàn thiện thế giới quan, xác lập vị thế xã hội và bắt đầu cuộc sống tự lập, từ đó lý giải tính nhạy cảm của lứa tuổi này trước cảm giác cô đơn và áp lực quản lý việc học.
CHƯƠNG 2. Tổ chức và thiết kế nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2 trình bày quy trình thiết kế và triển khai nghiên cứu thực tiễn:
- Tiến trình nghiên cứu: Trình bày các giai đoạn từ xây dựng công cụ, thử nghiệm, khảo sát diện rộng đến thu thập dữ liệu định tính.
- Mẫu khảo sát định lượng: Thu mẫu ngẫu nhiên gồm 856 sinh viên thuộc 5 trường đại học tại TP.HCM (HCMUE, HCMUTE, OU, UIT, UEH), phân tầng theo các tham số: giới tính, trường đào tạo, năm học (năm 1 đến năm 4) và kết quả xếp loại học lực.
- Mẫu phỏng vấn định tính: Lựa chọn các sinh viên điển hình đại diện cho các mức độ cô đơn và trì hoãn khác nhau để phỏng vấn sâu bằng bảng hỏi bán cấu trúc.
- Quy chuẩn thang đo và xử lý số liệu: Quy định tiêu chuẩn điểm trung bình, phân nhóm mức độ trên thang đo UCLA-3 và APS-SF; thiết lập quy trình kiểm tra độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích dữ liệu trên SPSS 26.0.
CHƯƠNG 3. Kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập của sinh viên một số trường Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 công bố các dữ liệu thực nghiệm và bình luận khoa học:
- Thực trạng cảm nhận cô đơn: Đánh giá điểm trung bình chung và phân bố mức độ cô đơn của sinh viên (kiểm định giả thuyết phần lớn sinh viên có mức độ cô đơn trung bình). Phân tích chi tiết mức độ cô đơn trên từng khía cạnh biểu hiện (tiếp xúc xã hội, chất lượng các mối quan hệ). Phân tích sự khác biệt về cảm nhận cô đơn theo các tham số nhân khẩu học qua kiểm định T-test (giới tính) và One-way ANOVA (trường, năm học, học lực).
- Thực trạng trì hoãn trong học tập: Đo lường mức độ trì hoãn học tập chung và 6 nhóm biểu hiện theo thang đo APS-SF. Đối chiếu sự khác biệt mức độ trì hoãn theo giới tính, trường đào tạo, khối năm học và học lực.
- Mối tương quan giữa hai biến số: Tính toán hệ số tương quan Pearson ($r$) giữa điểm số cảm nhận cô đơn và điểm số trì hoãn học tập. Kết hợp dữ liệu định lượng với các trích dẫn phỏng vấn sâu để chứng minh mối quan hệ hai chiều: cảm giác cô lập, thiếu kết nối xã hội làm giảm động lực học tập dẫn đến trì hoãn; ngược lại, hành vi trì hoãn kéo dài làm gia tăng căng thẳng, mặc cảm và đẩy cá nhân lùi sâu hơn vào trạng thái cô đơn.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Xác lập được bức tranh thực trạng về mức độ cảm nhận cô đơn của sinh viên 5 trường đại học tại TP.HCM, phần lớn phân bố ở mức trung bình theo đúng giả thuyết ban đầu.
- Đo lường chi tiết mức độ trì hoãn trong học tập của sinh viên trên cả 6 khía cạnh biểu hiện, chỉ ra các nhóm yếu tố tác động chủ đạo (như kỹ năng quản lý thời gian, khả năng kiểm soát sự phân tâm và niềm tin năng lực bản thân).
- Xác định được mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập ($r > 0$). Cảm nhận cô đơn càng cao thì mức độ trì hoãn học tập của sinh viên càng có xu hướng gia tăng.
- Làm rõ tính chất hai chiều của mối quan hệ: cô đơn làm suy giảm nguồn lực tâm lý và động lực thực hiện nhiệm vụ học tập; sự chậm trễ trong học tập dẫn đến lo âu, tự đánh giá thấp bản thân và cô lập xã hội.
- Phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ cô đơn và trì hoãn học tập khi kiểm định trên các tham số nhân khẩu học (giới tính, trường đại học, năm học và xếp loại học lực).
Đề xuất và kiến nghị của tác giả
- Đối với sinh viên: Rèn luyện kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả, chủ động tham gia các hoạt động tập thể và câu lạc bộ học thuật để gia tăng tương tác xã hội tích cực; nhận diện sớm dấu hiệu trì hoãn thụ động để chuyển đổi sang chiến lược hành động chủ động.
- Đối với nhà trường và giảng viên: Tăng cường hoạt động tham vấn tâm lý học đường, xây dựng môi trường học tập tương tác, hỗ trợ sinh viên năm nhất thích ứng với phương pháp học đại học; giao nhiệm vụ học tập kèm theo hướng dẫn và thời hạn rõ ràng.
- Đối với gia đình: Duy trì sự lắng nghe, đồng hành và giảm bớt áp lực kỳ vọng tiêu cực để hỗ trợ tâm lý cho sinh viên.
Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lý luận: Bổ sung dữ liệu thực nghiệm vào hệ thống lý luận tâm lý học đường tại Việt Nam, đặc biệt là khoảng trống nghiên cứu về mối tương quan trực tiếp giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn học tập ở sinh viên đại học.
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu khảo sát quy mô ($N = 856$) từ 5 trường đại học đa ngành tại TP.HCM, làm căn cứ thực chứng cho các nhà giáo dục, cán bộ tâm lý học đường trong việc xây dựng các chương trình can thiệp giảm thiểu hành vi trì hoãn và nâng cao sức khỏe tâm thần cho người học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực hiện trên mẫu sinh viên thuộc 5 trường đại học tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, chưa mở rộng ra các tỉnh thành khác nên tính đại diện cho toàn bộ sinh viên cả nước còn giới hạn. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional) chủ yếu phản ánh mối liên hệ tại một thời điểm nhất định, chưa theo dõi sự biến đổi tâm lý theo tiến trình dài hạn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo sát trên các vùng miền và khối ngành đặc thù khác; tiến hành các nghiên cứu dọc (longitudinal study) để đánh giá sự biến thiên của cô đơn và trì hoãn qua từng học kỳ; thử nghiệm các mô hình can thiệp tâm lý chuyên sâu nhằm cải thiện kỹ năng quản lý cảm xúc và hành vi học tập của sinh viên.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Công tác xã hội và các nhà nghiên cứu quan tâm đến tâm lý thanh thiếu niên và hành vi học tập.
- Nội dung giá trị:
- Tổng quan tài liệu chi tiết về các thang đo chuẩn hóa (UCLA-3, APS-SF) đã được kiểm định độ tin cậy tại Việt Nam.
- Khung lý thuyết phân biệt rành mạch giữa trì hoãn chủ động và trì hoãn thụ động.
- Quy trình xử lý và phân tích số liệu SPSS thực tế (T-test, ANOVA, tương quan Pearson) áp dụng cho đề tài nghiên cứu tâm lý học định lượng kết hợp định tính.
Câu hỏi thường gặp
1. Nghiên cứu tiếp cận cảm nhận cô đơn và trì hoãn học tập theo những khung lý thuyết nào?
Khóa luận tiếp cận cảm nhận cô đơn theo quan điểm Tâm lý học xã hội của Perlman & Peplau (1984), West (1986) và Russell (1996), xem cô đơn là trải nghiệm nhận thức chủ quan khi cá nhân nhận thấy sự thiếu hụt các tương tác xã hội hoặc thiếu các mối quan hệ chất lượng. Trì hoãn học tập được tiếp cận dưới góc độ trì hoãn chủ động và 6 khía cạnh biểu hiện hành vi theo Steel & Klingsieck (2016) cùng McCloskey (2011).
2. Quy mô mẫu và địa bàn khảo sát của khóa luận được tiến hành ở đâu?
Nghiên cứu khảo sát định lượng trên $N = 856$ sinh viên đang theo học tại 5 trường đại học trên địa bàn TP.HCM: ĐH Sư phạm TP.HCM (HCMUE), ĐH Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM (HCMUTE), ĐH Mở TP.HCM (OU), ĐH Công nghệ Thông tin - ĐHQG TP.HCM (UIT) và ĐH Kinh tế TP.HCM (UEH). Ngoài ra, tác giả còn thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc trên mẫu sinh viên điển hình.
3. Khóa luận sử dụng những công cụ đo lường chuẩn hóa nào?
Nghiên cứu sử dụng 2 thang đo chính thức:
- Thang đo Cảm nhận cô đơn UCLA - Version 3 (Russell, 1996), bản chuẩn hóa tại Việt Nam bởi GS. Trần Thị Minh Đức (2018).
- Thang đo Trì hoãn học tập dạng rút gọn APS-SF (McCloskey & Yockey, 2016), bản chuẩn hóa tại Việt Nam bởi Nguyễn Thị Ngọc Bé và cộng sự (2023).
4. Mối quan hệ giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập của sinh viên được kết luận như thế nào?
Kết quả xử lý thống kê xác nhận có mối tương quan thuận ($r > 0$) giữa cảm nhận cô đơn và trì hoãn trong học tập. Mối quan hệ này có tính chất tác động hai chiều: sự thiếu hụt kết nối xã hội và trạng thái cô đơn làm suy giảm động lực học tập, thúc đẩy hành vi trì hoãn; ngược lại, hậu quả của việc trì hoãn (lo âu, căng thẳng, kết quả kém) khiến sinh viên tự ti và gia tăng cảm giác cô lập.
5. Điểm khác biệt cơ bản giữa trì hoãn chủ động và trì hoãn thụ động được trình bày trong nghiên cứu là gì?
Trì hoãn thụ động là sự tạm hoãn vô lý do thiếu khả năng tự chủ, dẫn đến lo âu và giảm chất lượng công việc. Ngược lại, trì hoãn chủ động là một chiến lược có chủ ý: cá nhân tạm hoãn thực hiện nhiệm vụ để chọn thời điểm tối ưu nhằm tạo động lực và nâng cao hiệu quả làm việc dưới áp lực thời gian.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vương Thị Khánh Thư đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về cảm nhận cô đơn và hành vi trì hoãn trong học tập dưới lăng kính tâm lý học xã hội. Thông qua khảo sát thực chứng trên 856 sinh viên tại 5 trường đại học ở TP.HCM, công trình đã chứng minh mối tương quan thuận và cơ chế tác động hai chiều giữa cảm giác cô đơn và mức độ trì hoãn học tập. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm có giá trị, đóng góp vào việc đề xuất các giải pháp nâng cao kỹ năng học tập và hỗ trợ sức khỏe tâm thần cho sinh viên đại học hiện nay.