Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng tây nguyên trên địa bàn tỉnh đắk lắk

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu thực hiện chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng tây nguyên trên địa bàn tỉnh đắk lắk, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

117
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận văn Thạc sĩ này tập trung vào việc thực hiện chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại tỉnh Đắk Lắk. Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2005. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện đại hóa và toàn cầu hóa, việc bảo tồn di sản này đang gặp nhiều thách thức. Luận văn nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách bảo tồn.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ là nhạc cụ mà còn là biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, hiện tượng 'chảy máu cồng chiêng', sự suy giảm số lượng nghệ nhân và không gian văn hóa bị thu hẹp đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo tồn di sản. Luận văn góp phần giải quyết vấn đề này thông qua việc nghiên cứu và đề xuất chính sách hiệu quả.

1.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận văn là hoàn thiện chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Đắk Lắk. Nhiệm vụ bao gồm khảo sát thực trạng, phân tích kết quả và hạn chế, đồng thời đề xuất giải pháp cụ thể để nâng cao hiệu quả bảo tồn.

II. Cơ sở lý luận và thực trạng

Luận văn phân tích các khái niệm liên quan đến văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, bảo tồn văn hóachính sách bảo tồn. Đồng thời, nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách tại Đắk Lắk, chỉ ra những thành tựu và hạn chế trong quá trình bảo tồn.

2.1. Khái niệm và vai trò của cồng chiêng

Cồng chiêng là biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng của các dân tộc Tây Nguyên. Nó không chỉ là nhạc cụ mà còn là phương tiện giao tiếp với thần linh. Việc bảo tồn cồng chiêng góp phần duy trì bản sắc văn hóa dân tộc và thu hút du lịch.

2.2. Thực trạng bảo tồn tại Đắk Lắk

Tỉnh Đắk Lắk đã triển khai nhiều chính sách bảo tồn, như tổ chức lễ hội, truyền dạy kỹ năng đánh cồng chiêng. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế như thiếu nguồn lực, sự tham gia của cộng đồng chưa đầy đủ và sự mai một của không gian văn hóa.

III. Giải pháp và khuyến nghị

Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Đắk Lắk. Các giải pháp bao gồm nâng cao năng lực cán bộ, tăng cường nguồn lực tài chính và xây dựng tiêu chí đánh giá hiệu quả.

3.1. Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý

Cần xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan đến bảo tồn di sản văn hóa. Điều này giúp tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc thực hiện chính sách.

3.2. Tăng cường nguồn lực và hỗ trợ cộng đồng

Việc huy động nguồn lực tài chính và vật chất là yếu tố quan trọng. Đồng thời, cần tăng cường sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động bảo tồn để đảm bảo tính bền vững.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng tây nguyên trên địa bàn tỉnh đắk lắk

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TÂY NGUYÊN 1. Các khái niệm liên quan 1. Văn hóa Cho đến nay có hàng trăm định nghĩa về văn hóa, nhưng cho dù số lượng định nghĩa có bao nhiêu thì chúng vẫn xoay quanh một số khuynh hướng nhất định. Thông thường có hai xu hướng định nghĩa về văn hóa: một là loại định nghĩa mô tả liệt kê các thành tố của văn hóa và thứ hai, loại định nghĩa nêu đặc trưng của văn hóa.

Định nghĩa của nhà Nhân học xã hội người Anh E. Taylor là một trong những người đầu tiên đưa ra định nghĩa khá chuẩn mực về văn hóa: “Văn hóa là một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con người như một thành viên của xã hội đã đạt được” [8, tr. UNESCO định nghĩa văn hóa như sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin” [41]. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa bao gồm cả văn hóa văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, là toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.

Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [23]. 11 Từ những quan niệm về văn hóa, chúng ta thấy văn hóa có mặt trong toàn bộ đời sống của xã hội loài người. Mọi sự sáng tạo có giá trị của con người đều là văn hóa. Tuy nhiên cũng cần phải khu biệt khái niệm để công việc nghiên cứu văn hóa tránh sự trùng lặp với nhiều ngành khoa học khác.

Văn hóa, theo cách hiểu thông thường nhất, chính là bộ mặt tinh thần và vật chất của xã hội. Văn hóa làm nên diện mạo của dân tộc này so với dân tộc khác. Văn hóa phản ánh mọi mặt đời sống của một dân tộc. Theo chúng tôi, văn hoá là khái niệm dùng để chỉ sự phản ánh tổng thể những năng lực bản chất người trong tất cả các dạng hoạt động của họ, là tổng thể các hệ thống giá trị (cả giá trị vật chất lẫn giá trị tinh thần) do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội của mình.

Con người có hai loại nhu cầu cơ bản là nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Do vậy, con người cũng có hai loại hoạt động cơ bản là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Từ đó, văn hóa như một hệ thống thường được chia làm hai dạng: văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần hay còn gọi là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể: Văn hoá vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo của con người được thể hiện trong các của cải vật chất do xã hội tạo ra, bao gồm: các tư liệu sản xuất (trước hết là công cụ lao động) và tư liệu tiêu dùng của xã hội. Nó được hiểu như là những giá trị vật chất phát triển của xã hội tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển khác nhau.

Có thể gọi văn hoá vật chất là văn hoá sản xuất, văn hoá của môi trường sản xuất, của điều kiện sản xuất và của người lao động. Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sáng tạo tinh thần của con người. Bao gồm các biểu hiện tượng trưng và “không sờ thấy được” của văn hoá được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một quá trình tái tạo, “trùng tu” của cộng đồng. Những di sản văn hoá tạm gọi là phi vật thể (intangible) này theo UNESCO bao gồm tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, tập quán, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương,… 12 Như vậy, văn hóa có nhiều khái niệm khác nhau dưới các góc độ khác nhau.

Từ những quan niệm đó, ta nhận thấy: Theo nghĩa rộng, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn lịch sử - xã hội, mang tính chất chân, thiện, mỹ và phục vụ cho sự sinh tồn, phát triển của con người, xã hội loài người. Theo nghĩa hẹp, văn hóa là toàn bộ các giá trị tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy trong quá trình lịch sử xã hội. Bản sắc văn hóa: Theo Từ điển tiếng Việt: “Bản sắc là màu sắc, tính chất riêng tạo thành đặc điểm chính”. Bản sắc văn hóa được thể hiện trên lĩnh vực của đời sống và ý thức của cộng đồng.

Bản sắc văn hóa của Việt Nam được thể hiện qua lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, tính tự cường dân tộc, sự gắn kết cộng đồng, gia đình, làng xã, lòng nhân ái, bao dung, coi trọng đạo lý, cần cù trong lao động sáng tạo đã tạo nên bản sắc văn hóa riêng của người Việt Nam. Bản sắc văn hóa là cội nguồn, gốc rễ của một cộng đồng văn hóa trong lịch sử của sự hình thành, tồn tại và phát triển, cái đặc trưng riêng đó chính là sự khác biệt giữa dân tộc này và dân tộc khác. Với cách hiểu này, VHCC Tây Nguyên là một trong những bản sắc văn hóa của các DTTS tại chỗ Tây Nguyên. Di sản văn hóa Theo nghĩa Hán Việt, di sản văn hóa là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai.

Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị. Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng hợp của các ý nghĩa nói trên. Trong từ điển Tiếng Việt, di sản văn hóa được định nghĩa như sau: “Giá trị tinh thần và vật chất của văn hóa thế giới hay một quốc gia, một dân tộc để lại.

13 Như vậy di sản văn hóa là những sản phẩm do con người tạo ra. Tuy nhiên, không phải bất cứ sản phẩm nào do con người tạo ra đều là di sản văn hóa”. Theo điều 1 của Luật Di sản văn hóa được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 29/6/2001 quy định: Di sản văn hóa: “bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [28, tr. Di sản văn hóa vật thể: “Là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [28, tr.

Tại điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 được nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18/6/2009 quy định: Di sản văn hóa phi vật thể: Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [29, tr. Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng con đường truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ lưu truyền khác như: Tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, truyện kể dân gian, lối sống nếp sống, lễ hội, nghề thủ công truyền thống, y học cổ truyền về văn hóa ẩm thực và các bí quyết của làng nghề truyền thống, trang phục truyền thống và những tri thức dân gian khác. 14 Di sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, dưới dạng vật chất, là văn minh của nhân loại cái làm nên di sản văn hóa vật thể bằng các vật liệu khác nhau không có khả năng trường tồn theo thời gian [29, tr. Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể gắn bó mật thiết có tác động lẫn nhau cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc.

Di sản văn hóa phi vật thể là cốt lõi tinh thần của di sản văn hóa vật thể. Di sản văn hóa vật thể là biểu hiện vật chất của di sản văn hóa phi vật thể. Di sản văn hóa mang tính lịch sử, tính thời đại của một nền văn minh và kĩ thuật tạo ra nó, thể hiện nền văn hóa của một quốc gia hay một dân tộc. Có tính truyền thống được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, phát triển sáng tạo mới trên nền di tích cũ.

Di sản văn hóa tồn tại theo thời gian do đó dễ bị ảnh hưởng bởi có sự tác động lẫn nhau, dễ bị hư, bị phá hủy, bị mai một do tác động của con người của thời tiết và các vấn đề khác. Vì vậy, bảo tồn di sản văn hóa nhằm đảm bảo khôi phục, tôn tạo các di sản văn hóa để phục vụ cho hoạt động xã hội phát triển lâu dài, phát huy di sản là phát triển theo chiều hướng tiến bộ làm cho cái hay, cái đẹp được phát triển từ thấp đến cao từ đơn giản đến phức tạp, từ ít đến nhiều điều đó xuất phát từ nhu cầu thực tế của con người muốn tạo ra nhiều sản phẩm được nhiều người biết đến phát huy di sản văn hóa là phục vụ sự tiến bộ của xã hội, giáo dục truyền thống yêu nước giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, làm cầu nối cộng đồng các dân tộc trên thế giới dựa vào giá trị có sẵn của di sản để tôn vinh vẻ đẹp và phát triển các giá trị văn hóa. Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên Cồng chiêng là nhạc cụ dân tộc thuộc bộ gõ, được làm bằng đồng thau, hình tròn như chiếc nón quai thao, đường kính khoảng từ 20 cm đến 60 cm, ở giữa có hoặc không có núm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ "Chính Sách Bảo Tồn Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên Tại Đắk Lắk" tập trung vào việc phân tích và đề xuất các chính sách nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng, một di sản văn hóa phi vật thể quan trọng của người dân Tây Nguyên. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình hiện tại của văn hóa cồng chiêng mà còn nêu rõ những thách thức trong việc bảo tồn và phát triển nó trong bối cảnh hiện đại. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về các biện pháp bảo tồn, cũng như tầm quan trọng của việc duy trì các giá trị văn hóa truyền thống trong xã hội ngày nay.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của việc bảo tồn văn hóa truyền thống, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô Mễ Trì, từ Liêm, Hà Nội, nơi nghiên cứu hành vi của cộng đồng trong việc bảo tồn nghề truyền thống. Bên cạnh đó, tài liệu Luận văn thạc sĩ Đảng bộ huyện Thường Tín, Hà Tây lãnh đạo khôi phục và phát triển làng nghề thủ công truyền thống từ năm 1991 đến năm 2008 cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các chính sách phát triển làng nghề, có thể liên quan đến việc bảo tồn văn hóa. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về việc bảo tồn các nghi lễ văn hóa qua tài liệu Skkn vận dụng dạy học theo hướng tích hợp qua dự án bảo tồn và phát huy nghi lễ chầu văn và lễ hội phủ dầy Nam Định. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các phương pháp bảo tồn văn hóa truyền thống trong xã hội hiện đại.