Tổng quan nghiên cứu

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại được UNESCO công nhận vào tháng 11 năm 2005 và vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2008. Tuy nhiên, trước tác động của đô thị hóa, kinh tế thị trường và biến đổi cấu trúc xã hội, di sản cồng chiêng tại tỉnh Đắk Lắk đã trải qua giai đoạn suy giảm nghiêm trọng. Số liệu thống kê của ngành văn hóa cho thấy toàn tỉnh Đắk Lắk năm 1993 có 4.675 bộ cồng chiêng, nhưng đến năm 2003 chỉ còn 3.825 bộ, năm 2007 giảm xuống 3.375 bộ và đến cuối năm 2013 chỉ còn lưu giữ được 2.307 bộ chiêng đủ, tức suy giảm hơn 50% sau 20 năm. Hiện tượng chảy máu cồng chiêng, mai một các bài chiêng cổ và tình trạng già hóa đội ngũ nghệ nhân truyền dạy đã đặt ra thách thức sống còn đối với công tác bảo tồn văn hóa truyền thống.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Làm thế nào để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quy trình tổ chức thực hiện chính sách công nhằm bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản văn hóa cồng chiêng. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn văn hóa, khảo sát toàn diện thực trạng triển khai các chính sách từ cấp tỉnh đến cơ sở, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy trình chính sách. Phạm vi nghiên cứu bao quát địa bàn tỉnh Đắk Lắk với 15 đơn vị hành chính cấp huyện, 184 xã, phường, thị trấn, tập trung vào cộng đồng người Ê-đê và Mnông trong khung thời gian từ năm 2005 đến năm 2019. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học nhằm định hướng giải ngân hiệu quả nguồn ngân sách địa phương, củng cố hoạt động của 554 đội cồng chiêng truyền thống, đồng thời khôi phục không gian diễn xướng gắn với 2.608 căn nhà dài và 220 bến nước trên địa bàn toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng khung lý thuyết thực hiện chính sách công hiện đại kết hợp với quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Cốt lõi của khung phân tích là chu trình thực hiện chính sách công gồm quy trình 7 bước khoa học: lập kế hoạch triển khai, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp thực hiện, duy trì chính sách, điều chỉnh chính sách, theo dõi kiểm tra đôn đốc, và đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm. Song song đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể theo tinh thần Công ước UNESCO năm 2003 và Luật Di sản văn hóa Việt Nam năm 2001 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Hệ thống nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm nền tảng:

  • Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên: Hệ thống phức thể văn hóa gồm nhạc cụ tự thân vang bằng hợp kim đồng, kỹ thuật diễn xướng tập thể, bài bản âm nhạc và môi trường tín ngưỡng dân gian.
  • Di sản văn hóa phi vật thể: Các sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng phương thức truyền khẩu, trình diễn và thực hành nghi lễ.
  • Chính sách bảo tồn di sản văn hóa: Hệ thống quan điểm, mục tiêu, biện pháp và chuẩn mực pháp lý do Nhà nước ban hành nhằm duy trì, bảo vệ và tái tạo các giá trị di sản.
  • Thực hiện chính sách: Quá trình đưa ý chí của chủ thể chính sách vào thực tiễn xã hội thông qua các chương trình, dự án và cơ chế phân bổ nguồn lực.
  • Không gian văn hóa: Môi trường tự nhiên và xã hội đặc thù gồm rừng, buôn làng, nhà dài, bến nước, nơi diễn ra các nghi lễ nông nghiệp và vòng đời người.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp, nghiên cứu định tính tại thực địa và phương pháp chuyên gia. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo chính thức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Buôn Ma Thuột, Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Lắk giai đoạn 2005 - 2019.

Về thu thập dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích tại 2 địa bàn trọng điểm tiêu biểu cho hai nhóm tộc người bản địa lớn nhất tỉnh:

  • Cỡ mẫu khảo sát gồm 8 nghệ nhân tiêu biểu và đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa từ cấp tỉnh đến cấp xã.
  • Cụ thể tại thành phố Buôn Ma Thuột, tác giả khảo sát buôn Ea Bông (xã Cư Êbur) - nơi sở hữu đội chiêng truyền thống xuất sắc - và tiến hành phỏng vấn sâu 5 nghệ nhân Ê-đê. Tại huyện Lắk, tác giả khảo sát buôn Jiê Yuk (xã Đắk Phơi) và phỏng vấn sâu 3 nghệ nhân Mnông giàu kinh nghiệm diễn xướng.
  • Tác giả kết hợp quan sát không tham dự tại các không gian sinh hoạt buôn làng để đánh giá thái độ, tâm tư của chủ thể văn hóa.

Lý do lựa chọn phương pháp định tính và phỏng vấn sâu xuất phát từ đặc thù của di sản văn hóa phi vật thể và bản chất của chuyên ngành Chính sách công. Phương pháp này cho phép nhận diện chính xác khoảng cách giữa văn bản quy phạm pháp luật và thực tế thực thi ở cơ sở, giúp lắng nghe trực tiếp tiếng nói của các chủ thể văn hóa bản địa nhằm tìm ra nguyên nhân sâu xa của những bất cập trong quản lý nhà nước.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ ra tốc độ suy giảm nghiêm trọng của di sản vật thể cồng chiêng và sự biến đổi của không gian văn hóa. Giai đoạn 1993 - 2013, tổng số bộ chiêng toàn tỉnh giảm từ 4.675 bộ xuống 2.307 bộ (tương đương mức giảm 50,65%). Trong đó, số lượng cồng chiêng của dân tộc Mnông giảm sút nhanh nhất, từ 627 bộ năm 2007 xuống chỉ còn 164 bộ năm 2013 (giảm 73,84%). Người Ê-đê chiếm số lượng lớn nhất với 2.064 bộ (chiếm 89,47% tổng số chiêng toàn tỉnh), trong khi dân tộc Gia rai còn 62 bộ, Bru - Vân Kiều còn 9 bộ và Xơ đăng chỉ còn 8 bộ.

Thứ hai, kết quả khảo sát bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu nghệ nhân và nguy cơ đứt gãy tri thức dân gian. Dù toàn tỉnh thống kê được 3.855 nghệ nhân biết diễn tấu cồng chiêng, nhưng chỉ có 635 nghệ nhân có khả năng truyền dạy (chiếm 16,47%) và vỏn vẹn 393 nghệ nhân nắm giữ kỹ thuật chỉnh chiêng (chiếm 10,19%). Hầu hết các nghệ nhân chỉnh chiêng đều đã trên 60 tuổi, trong khi thế hệ thanh niên ít mặn mà với việc học tập các thang âm truyền thống.

Thứ ba, việc thể chế hóa và triển khai các đề án bảo tồn bước đầu tạo chuyển biến tích cực nhưng nguồn lực còn hạn chế. Tỉnh Đắk Lắk đã ban hành và thực hiện liên tiếp các chính sách lớn như Đề án 2007 - 2010 (ngân sách 6 tỷ đồng), Nghị quyết 63/2012/NQ-HĐND giai đoạn 2012 - 2015, và Nghị quyết 05/2016/NQ-HĐND giai đoạn 2016 - 2020. Nhờ đó, địa phương đã kiểm kê và ghi nhận 139 bài chiêng cổ, thành lập và duy trì 554 đội cồng chiêng truyền thống, từng bước hỗ trợ trang bị cồng chiêng cho nhà văn hóa cộng đồng tại các buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn tới sự suy giảm cồng chiêng bắt nguồn từ những biến đổi kinh tế - xã hội sâu sắc, sự du nhập của các tôn giáo mới và thay đổi phương thức sản xuất. Thống kê cho thấy toàn tỉnh có 13 tôn giáo với khoảng 450.000 tín đồ, đặc biệt là sự phát triển của Công giáo và Tin Lành trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, làm thay đổi các nghi lễ nông nghiệp gắn liền với thần linh (Giàng). Khi các nghi lễ hiến tế cổ truyền không còn được thực hành thường xuyên, tiếng chiêng mất đi môi trường diễn xướng thiêng liêng, dẫn đến hiện tượng buôn bán nhạc cụ quý để phục vụ nhu cầu đời sống vật chất.

So sánh với các công trình nghiên cứu trước đây tại khu vực Tây Nguyên, luận văn đã làm sáng tỏ thêm rằng nguyên nhân chính sách chưa đạt hiệu quả tối ưu là do khâu tổ chức thực hiện ở cơ sở còn mang tính phong trào. Công tác tuyên truyền chưa thấm sâu vào từng buôn làng, chế độ đãi ngộ đối với nghệ nhân chưa thỏa đáng, và cơ chế phối hợp liên ngành giữa văn hóa, tài chính và du lịch còn thiếu chặt chẽ.

Các dữ liệu nghiên cứu thực trạng có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ đường thể hiện đà suy giảm số lượng cồng chiêng giai đoạn 1993 - 2013, kết hợp với bảng phân tích cơ cấu năng lực nghệ nhân nhằm làm nổi bật tỷ lệ chênh lệch giữa nhóm diễn tấu và nhóm chỉnh chiêng. Qua đó, các nhà quản lý sẽ dễ dàng nhận diện điểm nghẽn chính sách để tập trung nguồn lực can thiệp kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích chu trình chính sách, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm hoàn thiện công tác thực hiện chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng:

  1. Hoàn thiện hệ thống thể chế và ban hành tiêu chí đánh giá chính sách:

    • Cơ quan thực hiện: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
    • Hành động cụ thể: Xây dựng và ban hành Nghị quyết chuyên đề về bảo tồn di sản giai đoạn tiếp theo; thiết lập bộ chỉ số định lượng đo lường kết quả thực thi chính sách ở cấp huyện và cấp xã.
    • Mục tiêu: 100% các huyện, thị xã, thành phố tích hợp chỉ tiêu bảo tồn cồng chiêng vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm trước năm 2022.
  2. Tăng cường phân bổ ngân sách và đa dạng hóa nguồn tài chính:

    • Cơ quan thực hiện: Sở Tài chính chủ trì, phối hợp cùng Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
    • Hành động cụ thể: Nâng mức phân bổ ngân sách nhà nước tăng tối thiểu 25% so với mức 6 tỷ đồng của giai đoạn trước; ban hành cơ chế ưu đãi thuế để khuyến khích doanh nghiệp du lịch tài trợ cho các đội chiêng buôn làng.
    • Mục tiêu: Đảm bảo 100% buôn đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ được trang bị 1 bộ chiêng đầy đủ và hỗ trợ kinh phí hoạt động định kỳ đến năm 2025.
  3. Đổi mới phương thức đào tạo và ban hành chính sách đãi ngộ nghệ nhân:

    • Cơ quan thực hiện: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban nhân dân các huyện và thành phố.
    • Hành động cụ thể: Tổ chức các lớp truyền dạy kỹ thuật chỉnh chiêng chuyên sâu cho 100 học viên trẻ tuổi; thực hiện chính sách trợ cấp sinh hoạt và vinh danh danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú cho 393 nghệ nhân chỉnh chiêng và 635 nghệ nhân truyền dạy.
    • Lộ trình: Hoàn thành phổ cập chính sách hỗ trợ tài chính cho nghệ nhân cao tuổi trong giai đoạn 2021 - 2023.
  4. Phát triển kinh tế gắn với không gian diễn xướng cồng chiêng:

    • Cơ quan thực hiện: Sở Du lịch, Hiệp hội Du lịch tỉnh, và cộng đồng cư dân tại 220 bến nước, 2.608 căn nhà dài truyền thống.
    • Hành động cụ thể: Xây dựng các tour du lịch văn hóa cộng đồng trải nghiệm thực cảnh tại buôn Ea Bông và buôn Jiê Yuk, kết hợp biểu diễn cồng chiêng nguyên bản với quảng bá sản phẩm cà phê và ẩm thực địa phương.
    • Mục tiêu: Tăng thu nhập trực tiếp cho nghệ nhân và đồng bào bản địa lên 20 - 30% vào năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Sở VHTTDL tỉnh Đắk Lắk và các tỉnh Tây Nguyên): Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật, từ đó xây dựng các chương trình hành động bảo tồn di sản sát với thực tiễn vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Học viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu chuyên ngành Chính sách công, Quản lý văn hóa, Văn hóa học: Sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp phân tích chu trình chính sách công áp dụng trong lĩnh vực quản lý di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.
  • Đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở tại 184 xã, phường, thị trấn: Nắm vững quy trình 7 bước tổ chức thực thi chính sách để triển khai hiệu quả các lớp truyền dạy cồng chiêng, khôi phục lễ hội truyền thống và quản lý trang thiết bị văn hóa buôn làng.
  • Các doanh nghiệp lữ hành và tổ chức phát triển du lịch cộng đồng: Tham khảo các mô hình không gian diễn xướng gắn với nhà dài và bến nước nhằm thiết kế các sản phẩm du lịch di sản bền vững, tôn trọng bản sắc của người Ê-đê và Mnông.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến sự suy giảm cồng chiêng tại Đắk Lắk giai đoạn 1993 - 2013?

Sự sụt giảm từ 4.675 bộ xuống còn 2.307 bộ xuất phát từ tác động của kinh tế thị trường khiến nhiều gia đình bán chiêng lấy tiền, cùng với sự gia tăng của các tôn giáo mới (chiếm 450.000 tín đồ) làm mai một các nghi lễ cúng thần linh cổ truyền.

2. Ngân sách thực hiện Đề án bảo tồn cồng chiêng giai đoạn 2007 - 2010 của tỉnh Đắk Lắk là bao nhiêu?

Theo đề án được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, tổng kinh phí dự kiến thực hiện trong giai đoạn 2007 - 2010 là 6 tỷ đồng, được huy động từ nguồn ngân sách nhà nước kết hợp với nguồn xã hội hóa từ các doanh nghiệp và tổ chức xã hội.

3. Đội ngũ nghệ nhân chỉnh chiêng tại tỉnh Đắk Lắk hiện nay đang đối mặt với nguy cơ gì?

Toàn tỉnh chỉ có 393 nghệ nhân biết chỉnh chiêng trong tổng số 3.855 nghệ nhân diễn tấu (chiếm 10,19%). Nguy cơ lớn nhất là sự già hóa khi phần lớn nghệ nhân đều đã cao tuổi, trong khi kỹ thuật chỉnh chiêng đòi hỏi đôi tai thẩm âm tinh tế rất khó đào tạo cho thế hệ trẻ.

4. Các chính sách bảo tồn đã mang lại kết quả định lượng cụ thể nào cho cộng đồng buôn làng?

Chính sách bảo tồn đã giúp thống kê và ghi âm 139 bài chiêng cổ, thành lập và duy trì hoạt động cho 554 đội cồng chiêng truyền thống, bảo vệ 2.608 căn nhà dài và phục hồi 155 nghi lễ dân gian gắn liền với đời sống buôn làng.

5. Khung lý thuyết của luận văn phân chia quy trình thực hiện chính sách thành mấy bước?

Luận văn áp dụng mô hình khoa học gồm 7 bước: Lập kế hoạch triển khai; Tuyên truyền phổ biến; Phân công phối hợp; Duy trì chính sách; Điều chỉnh chính sách; Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc; và Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực tiễn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chu trình 7 bước thực hiện chính sách công trong lĩnh vực bảo tồn Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
  • Phản ánh trung thực thực trạng suy giảm cồng chiêng từ 4.675 bộ (năm 1993) xuống còn 2.307 bộ (năm 2013), đồng thời chỉ ra sự mất cân đối nhân lực khi nghệ nhân chỉnh chiêng chỉ chiếm 10,19%.
  • Đánh giá sâu sắc hiệu quả thực thi các văn bản chính sách lớn của tỉnh Đắk Lắk, ghi nhận việc bảo tồn thành công 139 bài chiêng cổ và duy trì 554 đội cồng chiêng buôn làng.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá kết hợp hoàn thiện thể chế, nâng cao ngân sách, ban hành chế độ đãi ngộ nghệ nhân và phát triển du lịch di sản bền vững gắn với 2.608 căn nhà dài.
  • Xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng giúp các cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, giám sát hiệu quả thực thi chính sách bảo tồn văn hóa trong giai đoạn 2021 - 2025 và định hướng đến năm 2030.

Công trình đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho ngành Chính sách công và công tác quản lý di sản tại Việt Nam. Các cơ quan quản lý văn hóa và các nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh ứng dụng ngay hệ thống giải pháp này vào thực tiễn quản lý địa phương nhằm ngăn chặn nguy cơ mai một và gìn giữ trường tồn báu vật văn hóa Tây Nguyên cho muôn đời sau.