CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ 1. Khái quát về làng nghề, làng nghề truyền thống 1. Làng nghề Cho đến nay có nhiều khái niệm khác nhau về LN.
Cụ thể như sau: Trần Quốc Vượng (1996) cho rằng, LN là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi gà, lợn, nhưng ở đó đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, sống chủ yếu bằng nghề đó [26]. Phạm Côn Sơn (2004) định nghĩa LN như sau: “LN là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. LN không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các LN là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương” [16].
Theo Dương Bá Phượng (2001): “LN là làng ở nông thôn có một hoặc một số nghề thủ công tách hẳn ra khỏi thủ công nghiệp và kinh doanh độc lập. Thu nhập từ các LN đó chiếm tỉ trọng cao trong tổng giá trị toàn làng. 13] LN được công nhận phải đạt 03 tiêu chí: Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; Hoạt động SXKD ổn định; Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước [4]. Như vậy, LN là một thiết chế gồm hai yếu tố cấu thành là làng và nghề.
Trong đó nghề trong làng đã tách ra khỏi SX nông nghiệp thành ngành kinh doanh độc lập để phù hợp với điều kiện phát triển mới. Theo góc độ kinh tế, có thể hiểu LN là hình thức tổ chức SXKD đặc thù ở nông thôn. Trong đó, có sự chuyên môn hóa của các ngành nghề phi nông nghiệp, ngành nghề phi nông nghiệp có vị trí, vai trò quan trọng, thậm chí là chủ yếu trong đời sống kinh tế của làng. 9 Để phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, LN không còn bó hẹp trong khuôn khổ công nghệ thủ công mà một số công đoạn đã được cơ khí hóa.
Trong các LN không chỉ có các cơ sở sản xuất (CSSX) mà đã có những dịch vụ phân phối hàng hóa, cung ứng đầu vào và đầu ra cho sản phẩm LN. Nghề truyền thống Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn định nghĩa về nghề truyền thống: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”, “Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau: Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của LN” [4]. Đặc trưng cơ bản của nghề truyền thống là: sử dụng kỹ thuật và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Sản phẩm làm ra phục vụ mục đích tiêu dùng, có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.
Những nghề truyền thống thường được truyền trong một gia đình, một làng, một vùng. Trong LNTT, đa số người dân cùng làm nghề truyền thống đó. Ngoài ra, họ còn có thể phát triển những nghề khác, những nghề này chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với nghề truyền thống. Làng nghề truyền thống Theo Trần Minh Yến (2004): “LNTT trước hết là LN được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong SX và tiêu thụ sản phẩm.
Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt là các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc” [28]. “LNTT là LN có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” [4]. Như vậy, có thể hiểu về LNTT là LN đã tồn tại và phát triển lâu đời, trong đó hoạt động kinh tế chủ yếu gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi có nhiều 10 nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong SX và tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm làm ra tinh xảo có tính mỹ thuật cao, có giá trị đặc thù trên thị trường.
Vai trò của phát triển làng nghề đối với kinh tế - xã hội 1. Phát triển làng nghề góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở nông thôn LN đóng góp tích cực về tạo việc làm ở nhiều địa phương. Vì đặc điểm chủ yếu của LN là SX thủ công và sử dụng nhiều sức lao động nên tạo ra nhiều việc làm ở địa phương. Số lượng lao động của các CSSX rất đa dạng, tùy theo quy mô của CSSX và ngành nghề của LN.
Các CSSX quy mô nhỏ sử dụng lao động thường xuyên từ 2 đến 4 người. Tuy nhiên, các CSSX quy mô lớn sử dụng lao động hàng chục người, có khi lên đến hàng trăm người. Số lượng lao động tham gia SX phi nông nghiệp còn nhiều hơn nếu tính cả lao động thời vụ. Trung bình mỗi hộ SX thu hút thêm 2 - 5 lao động, còn mỗi cơ sở thu hút 8 - 10 lao động thời vụ [3].
Với đặc điểm là nước đông dân với hơn 92 triệu người và có tốc độ tăng lao động tương đối cao. Vì vậy, sự phát triển của LNTT đã tác dụng tích cực không chỉ về mặt kinh tế mà cả về mặt xã hội trên phương diện việc làm và tăng thu nhập cho người lao động. Thống kê năm 2016 cho thấy cả nước có đến gần 54.5 triệu lao động thì số lao động ở nông thôn có gần 37 triệu (chiếm 67.8%), trong khi diện tích đất canh tác ngày càng thu hẹp, tỉ lệ thất nhiệp của lao động trong độ tuổi cả nước là 2.3% và ở nông thôn là 1. Kinh tế nông nghiệp hiện nay vẫn lạc hậu, năng suất lao động thấp, nên bản thân SX nông nghiệp không có khả năng giải quyết lao động dư thừa trong nông thôn hiện nay.
Sự phát triển của các LNTT không những chỉ thu hút lao động ở gia đình, làng xã mà còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác đến. Sự phát triển của các LNTT còn kéo theo sự phát triển nhiều nghề khác, nhiều hoạt động dịch vụ liên quan đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Sự phát triển các LNTT và LN mới được coi là động lực trực tiếp giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động nông thôn. Phát triển làng nghề góp phần khai thác và phát huy những nguồn lực sẵn có của địa phương Quy mô SX ở các LN nhỏ, không cần đầu tư nhiều vốn và lao động nên phù hợp với năng lực của các hộ gia đình nghèo ở nông thôn và ngoại thành.
Vốn kinh doanh của các CSSX ở các LN đa dạng, tùy thuộc vào ngành nghề và quy mô nhưng đa số CSSX có quy mô nhỏ và vốn đầu tư thấp. Chẳng hạn, CSSX ở các LN làm bánh tráng và đan giỏ tre thường có vốn kinh doanh khoảng 2-3 triệu đồng nên hộ gia đình ở làng đều có thể đầu tư vốn tham gia SX. Với mức vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lợi thế để các LN có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi của dân vào hoạt động SXKD [28, tr. Thực tế cho thấy, đa số các LNTT ở Việt Nam thời gian qua không đòi hỏi vốn đầu tư quá lớn, bởi vì rất nhiều nghề chỉ cần công cụ thủ công, thô sơ.
SX trong các LN chủ yếu là quy mô nhỏ, yêu cầu về vốn và lao động không lớn nên rất phù hợp với khả năng huy động nguồn vốn nhàn rỗi của các hộ gia đình vào SXKD. Việc sử dụng ngay diện tích nhà ở, sân vườn, bếp làm nơi SX, nhà kho đã tiết kiệm được khá lớn vốn đầu tư cơ bản. SX ở các LN sử dụng lao động thủ công là chính nên có khả năng tận dụng nhiều loại lao động. Đa số nguyên liệu phục vụ SX của LN có thể khai thác trong nước.
Nhiều địa phương có tiềm năng nuôi, trồng nguyên liệu, tạo ra vùng nguyên liệu lớn, cung cấp ổn định cho LN. Bộ công thương ước tính: chi phí nguyên liệu nhập khẩu của các nghề truyền thống chỉ chiếm từ 3-5% giá trị sản phẩm nên giá trị thực thu từ xuất khẩu sản phẩm LN chiếm từ 95-97%. Trong khi may mặc và dày dép có kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng nhập khẩu tới 80% nguyên liêu đầu vào nên giá trị thực từ xuất khẩu chỉ chiếm 25%. LN còn phát triển các ngành nghề nuôi, trồng và cung cấp nguyên liệu phục vụ SX của LN như: lá buông, cói, gỗ, mây, tre, cải tạo những vùng đất hoang vào nuôi, trồng nguyên liệu.
LN còn tận thu những nguyên liệu giá trị thấp (vỏ trứng, vỏ sò, gỗ vụn…) vào SX, biến những nguyên liệu này thành các sản phẩm thủ công mỹ nghệ giá trị cao. Phát triển làng nghề góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta từ nông nghiệp là chủ yếu chuyển sang cơ cấu mới: tỷ trọng của khu vực công nghiệp và xây dựng tăng lên dần, nhất là tỷ trọng của khu vực dịch vụ tăng nhanh, tỷ trọng của nông nghiệp giảm dần. Phát triển LN ở nông thôn là con đường chủ yếu để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Phát triển LN góp phần chuyển lao động nông nghiệp năng suất thấp, thu nhập thấp sang lao động ngành nghề có năng suất và chất lượng cao với thu nhập cao hơn.
Mục tiêu nâng cao đời sống của cư dân nông thôn một cách toàn diện cả về kinh tế và văn hóa có thể đạt được nếu trong nông thôn có cơ cấu hợp lý các ngành công nghiệp và dịch vụ, có hệ thống LN phát triển tiếp nối truyền thống văn hóa.