Phần mở đầu nêu ra những phƣơng diện khái quát, tiếp đến là phần nội dung. Phần nội dung là 6 tổng hợp tất cả những vấn đề lý luận và những kết quả nghiên cứu. Phần cuối, là những đánh giá tổng hợp và những kiến nghị, đề xuất. CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ CÁC KHÁI NIỆM 1.
Những vấn đề lý luận: Khi tiến hành nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến văn hóa truyền thống của một cộng đồng dân cƣ đang cƣ trú trên một địa bàn nhất định, chúng ta cần phải tìm hiểu những lý luận có liên quan đến cộng đồng dân cƣ đó nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nghiên cứu. Sau đây, nhóm nghiên cứu chúng tôi xin đề cập đến những lý luận về di cƣ, lý luận về văn hóa và tiếp biến văn hóa để làm cơ sở nền tảng cho tiến trình nghiên cứu của nhóm chúng tôi. Lý thuyết về di cƣ: Di cƣ (migration) là một hình thức di chuyển trong không gian của con ngƣời từ đơn vị địa lý hành chính này sang một đơn vị địa lý hành chính khác. Kèm theo sự thay đổi chỗ ở thƣờng xuyên trong khoảng thời gian nhất định.1 Định nghĩa trên loại trừ những ngƣời sống lang thang cơ nhỡ, dân du mục, di dân theo mùa, di dân theo kiểu con lắc (đi về hằng ngày).
Hiện tƣợng một nhóm ngƣời di cƣ khỏi một tỉnh thành, huyện thị này đến một tỉnh thành, huyện thị khác sinh sống trong khoảng thời gian lâu dài cũng đƣợc gọi là di cƣ. Các yếu tố tác động đến việc di cƣ của con ngƣời. Các yếu tố thuộc về tự nhiên nhƣ: đất đai, khí hậu, địa hình, tài nguyên,. hay các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội và chính sách dân số của mỗi quốc gia.
Sự thuận lợi hay khó khăn của các yếu tố này sẽ tạo nên lực đẩy và lực hút đối với từng vùng, lãnh thổ. Điều đó gây ảnh hƣởng đến quá trình chuyển đến hay ra đi của dân cƣ. 1 Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc – 1958. 7 + Lực hút là những yếu tố thuận lợi cho việc học tập, sinh sống, làm việc và phát triển.
+ Lực đẩy là những yếu tố bất lợi hạn chế việc học tập, sinh sống, làm việc và phát triển. Lý thuyết về lực hút và lực đẩy cho thấy một quy luật trong hiện tƣợng di cƣ là dân cƣ sẽ di chuyển từ nơi có đời sống thấp đến nơi có đời sống cao, từ nơi có điều kiện tự nhiên kém thuận lợi đến nơi có điều kiện thuận lợi hơn. Dựa trên những lý thuyết nhƣ trên, nhóm nghiên cứu chúng tôi tiến hành phân tích các nguyên nhân dẫn đến hiện tƣợng di cƣ của ngƣời dân Trung Quốc đến định cƣ trên khắp khu vực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Đề cập đến hiện tƣợng di cƣ của ngƣời dân Trung Quốc, chúng ta có thể thấy đƣợc có rất nhiều nguyên nhân để họ rời quê hƣơng của mình để có thể đến một vùng đất hoàn toàn xa lạ để định cƣ và sinh sống.
Theo nghiên cứu và tìm hiểu có thể sơ lƣợc thành những nguyên nhân sau đây: 1. Di cƣ sinh thái: Nguyên nhân di cƣ mang tính chất sinh thái hay còn gọi là dạng di trú sinh thái. Sự mất mùa, đói kém, bệnh tật, dân cƣ thừa thãi, sinh đẻ quá mức, đất chật, ngƣời đông buộc con ngƣời ta phải đi tìm một vùng đất mới để có thể đáp ứng đƣợc những nhu cầu sinh sống của họ. Việc tìm một vùng đất khác để sinh sống là một nhu cầu tất yếu.
Mà một trong những nơi họ có thể di cƣ để sinh sống hoàn hảo thì chỉ có các nƣớc láng giềng. Nguyên nhân chủ yếu là do, Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc nằm trong khu vực lân cận có điều kiện tự nhiên, phong tục tập quán, truyền thống gắn bó lâu dài và có nét tƣơng đồng. Chính vì vậy, tuy sống ở quốc gia khác nhƣng tại nơi đó vẫn có những yếu tố phù hợp với cuộc sống của họ tại vùng bản địa, dễ dàng cho họ thích nghi, đặt mục tiêu định cƣ lâu dài ở nƣớc ngoài. Riêng về Việt Nam, ngƣời dân Trung Quốc dễ dàng di cƣ bằng đƣờng bộ, đƣờng thủy.
Chính vì vậy mà quá trình di cƣ của ngƣời dân Trung Quốc sang Việt Nam với số lƣợng khá nhiều. Di cƣ thƣơng mại: Nguyên nhân mang tính chất kinh tế - thƣơng mại, hay còn gọi là dạng di trú thƣơng mại. Đây là sự di trú của tầng lớp nhà buôn, tiểu thƣơng Trung Quốc, 8 diễn ra từ thời xa xƣa trong lịch sử Trung Quốc. Sự buôn bán năng động, có hiệu quả của Hoa thƣơng trên biển và trên đất liền cùng những cuộc thám hiểm, mở rộng sức ảnh hƣởng của Trung Quốc ra các nƣớc khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Dƣơng diễn ra sôi nổi từ thế kỷ XV là một trong những nguyên nhân quan trọng thu hút nhiều ngƣời Trung Quốc di cƣ ra nƣớc ngoài để tìm kiếm lợi nhuận.
Buôn bán trên biển dọc theo bờ biển các tỉnh Đông Nam Trung Quốc với các nƣớc Nam Dƣơng đã có từ lâu, đƣợc phát triển khá mạnh mẽ từ thời nhà Đƣờng (Thế kỷ VII - IX), đặc biệt từ thời Tống (thế kỷ XI - XII). Từ thời đó đã hình thành nên hai kênh buôn bán và trao đổi hàng hóa. Một là trao đổi hàng hóa chính thức thông qua các phái đoàn của triều đình. Trong lịch sử thƣờng gọi kênh buôn bán - trao đổi này là “buôn bán cống nạp”.
Việc trao đổi này đƣợc tiến hành với các nƣớc láng giềng, thƣờng là trao đổi hàng hóa quan trọng thiết yếu. Hai là buôn bán không chính thức, thƣờng là do các tƣ nhân làm ăn với nhau, phần lớn là nhà nƣớc không kiểm soát đƣợc. Và chính cũng nhờ kênh trao đổi hàng hóa này mà hoạt động giao thƣơng giữa các nƣớc trong khu vực Đông Nam và Trung Quốc diễn ra vô cùng sầm uất, phát triển mạnh mẽ. Vì vậy, thƣơng nhân Trung Quốc rất có kinh nghiệm buôn bán, giao thƣơng với nƣớc ngoài, và họ đƣợc nhiều nhà buôn trên khắp vùng Đông Nam Á đánh giá cao.
Nguồn vốn và kinh nghiệm tích lũy của họ dần dần quốc tế hóa, không những là một trong những nguồn tiềm năng quan trọng của đất nƣớc sở tại mà họ đang sống mà còn là nguồn đầu tƣ khổng lồ, hiện đại hóa cố hƣơng, Tổ quốc xa xƣa của họ là Trung Quốc. Di cƣ chính trị và chiến tranh: Nguyên nhân di trú mang tính chất an ninh – chính trị hay là dạng di trú chính trị và chiến tranh. Những biến động chính trị bên trong Trung Quốc nhƣ các cuộc chiến tranh giành quyền lực, lật đổ, đảo chính, các cuộc khởi nghĩa và chiến tranh nông dân đã đẩy một bộ phân ngƣời dân Trung Quốc chạy tị nạn sang các nƣớc láng giềng. Ngoài ra, các sứ giả, quan lại, nhà tu hành Phật giáo đi công cán ở nƣớc ngoài, tầng lớp thƣơng gia làm ăn ở ngoại quốc sau những biến cố lịch sử trong nƣớc không trở về Tổ quốc mà xin định cƣ ở hải ngoại.
Các cuộc nội chiến giữa các phe phái diễn ra liên tục trong lịch sử Trung Quốc. Chính 9 những biến cố chính trị này đã dấn đến các cuộc tị nạn sâu rộng trong dân cƣ Trung Quốc, nhằm tìm kiếm một nơi có thể sống bình yên, tránh cảnh loạn lạc, những mối nguy hiểm tại quê nhà. Thêm vào đó, chính sách bành trƣớng và đồng hóa bằng vũ lực nhƣ các cuộc chiến tranh xâm lƣợc do các triều đại phong kiến Trung Hoa phát động chống lại các nƣớc Đông Nam Á cùng các cuộc chiến tranh xâm lƣợc của ngoại bang chống lại Trung Hoa tạo ra những làn sóng di cƣ của ngƣời Trung Hoa ra nƣớc ngoài. Điều này đã đƣợc thể hiện rất rõ trong lịch sử Trung Quốc.
Di cƣ lao động: Những ngƣời nông dân tự do, dân nghèo đô thị muốn ra nƣớc ngoài tìm kiếm công ăn việc làm mới có thu nhập cao hơn. Tầng lớp nhà buôn ngƣời Hoa và các nhà tƣ tƣởng phƣơng Tây ở hải ngoại đầu tƣ xây dựng các cơ sở kinh doanh, lập nên nhiều nhà máy, hầm mỏ, thu hút nhiều công nhân, trong đó có công dân ngƣời Trung Hoa di trú. Từ nửa sau thế XIX, việc di cƣ lao động Trung Quốc đến các nƣớc Đông Nam Á đã đạt đến số lƣợng hàng chục vạn ngƣời, có khi có đến hàng trăm ngàn ngƣời. Phần lớn họ rời cảng Hồng Công, sau đó đến Singapore và di tản đến các vùng khác của khu vực.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì số lƣợng di cƣ ngƣời Trung Quốc với tƣ cách là ngƣời lao động trong thế kỷ XIX đến các nƣớc Đông Nam Á đã đạt đến không dƣới 3 triệu ngƣời. Nói tóm lại, ngƣời Trung Hoa di cƣ, sau đó định cƣ ở nƣớc ngoài bởi do nhiều nguyên nhân, trong đó có sự đói nghèo, cùng quẫn là một trong những yếu tố chính khiến họ rời bỏ quê hƣơng, tìm nơi an lạc mới. Động cơ tìm kiếm lợi nhuận, tìm việc làm và thu nhập tốt hơn ở hải ngoại cũng tạo ra lực hút không nhỏ đối với tầng lớp thƣơng gia, thợ thủ công Trung Hoa. Những ngƣời này là hạt nhân chính tạo nên những phố chợ, làng chợ Trung Hoa ở nƣớc ngoài.
Suốt tiến trình lịch sử, thời nào cũng có làn sóng ngƣời Trung Hoa di cƣ. Họ đi bằng nhiều con đƣờng để đến với đất nƣớc mà họ muốn định cƣ, nhằm tìm kiếm môi trƣờng sống và môi trƣờng định cƣ đáp ứng đƣợc nhu cầu sinh sống của họ. Và để đánh dấu cho sự thành công của họ nơi đất khách quê ngƣời, đặc biệt là sự thành công của các thƣơng nhân ngƣời Trung Quốc, điển hình tại Việt Nam, 10 ta có thể thấy họ đã thành lập nên một thƣơng cảng vô cùng sầm uất tại Hội An, Quảng Nam vào những thế kỷ XV – XVI.2 Nói đến các dạng di cƣ của ngƣời Hoa sang Việt Nam nói chung và Hội An nói riêng thì chủ yếu họ thuộc hai dạng di cƣ thƣơng mại và di cƣ chính trị và chiến tranh. Lịch sử di cƣ của ngƣời Trung Quốc đƣợc chia làm nhiều giai đoạn khác nhau.
Vấn đề này cũng đƣợc nhóm nghiên cứu chúng tôi đề cập trong phần tiếp theo của bài nghiên cứu. Khi di cƣ đến một vùng đất mới, cộng đồng ngƣời di cƣ nói chung và cộng đồng ngƣời Hoa nói riêng sẽ có tâm lý chọn lọc để quyết định tiếp tục di cƣ hay định cƣ tại một vùng đất cố định nào đó.