Luận án tiến sĩ nghiên cứu sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa TP.HCM giai đoạn 2010-2020

Luận án tiến sĩ nghiên cứu sâu về văn hóa học sân khấu kịch nói tại TP.HCM giai đoạn 2010-2020, phân tích vai trò và ảnh hưởng trong đời sống văn hóa đô thị.

Chuyên ngành

Văn Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

201
7
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI ĐỀN VÀ

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2. Khái quát về lễ hội Đền Và

2. CHƯƠNG 2: VỐN XÃ HỘI DƯỚI GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LỄ HỘI ĐỀN VÀ

2.1. Quản lý tín ngưỡng và củng cố hệ tư tưởng chính trị

2.2. Chính thống hoá vai trò tổ chức và mở rộng quan hệ xã hội

2.3. “Sáng tạo truyền thống” và phân công xã hội

3. CHƯƠNG 3: VỐN XÃ HỘI DƯỚI GÓC ĐỘ CỘNG ĐỒNG TRONG LỄ HỘI ĐỀN VÀ

3.1. Vốn xã hội trong lễ hội Đền Và nhìn từ phương diện kinh tế

3.2. Vốn xã hội trong lễ hội Đền Và nhìn từ phương diện văn hoá

3.3. Vốn xã hội trong lễ hội Đền Và nhìn từ phương diện biểu tượng

4. CHƯƠNG 4: MỘT SỐ VẤN ĐỀ BÀN LUẬN VỀ VỐN XÃ HỘI TRONG LỄ HỘI ĐỀN VÀ

4.1. Tam giác quan hệ Nhà nước, cộng đồng và vốn xã hội

4.2. Những xu hướng biến đổi của vốn xã hội trong lễ hội Đền Và hiện nay

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Luận án tiến sĩ về sân khấu kịch nói trong văn hóa TP

Luận án tiến sĩ này tập trung nghiên cứu sự phát triển của sân khấu kịch nói trong bối cảnh văn hóa TP.HCM giai đoạn 2010-2020. Nghiên cứu này không chỉ khám phá sự biến đổi của nghệ thuật sân khấu mà còn phân tích mối quan hệ giữa kịch nói Việt Namvăn hóa đô thị. Luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành để làm rõ vai trò của sân khấu trong việc phản ánh và định hình văn hóa nghệ thuật đương đại.

1.1. Sân khấu kịch nói và văn hóa TP.HCM

Sân khấu kịch nói đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa TP.HCM, đặc biệt trong giai đoạn 2010-2020. Nghiên cứu chỉ ra rằng, kịch nói không chỉ là phương tiện giải trí mà còn là công cụ phản ánh các vấn đề xã hội và văn hóa đô thị. Các tác phẩm kịch nói đương đại thường xuyên đề cập đến các chủ đề như đô thị hóa, toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa, tạo nên sự kết nối sâu sắc giữa nghệ thuật sân khấu và đời sống cộng đồng.

1.2. Nghệ thuật sân khấu và kịch nói Việt Nam

Nghệ thuật sân khấu Việt Nam, đặc biệt là kịch nói, đã trải qua nhiều biến đổi trong thập kỷ qua. Luận án phân tích cách kịch nói Việt Nam đã tiếp thu và chuyển hóa các yếu tố văn hóa quốc tế, đồng thời duy trì bản sắc dân tộc. Các tác phẩm kịch nói không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn góp phần vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa nghệ thuật truyền thống.

II. Nghiên cứu sân khấu và văn hóa đô thị

Nghiên cứu sân khấu trong bối cảnh văn hóa đô thị là một trong những trọng tâm của luận án. Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng, sân khấu TP.HCM không chỉ là nơi biểu diễn mà còn là không gian giao lưu văn hóa, nơi các nghệ sĩ và khán giả cùng thảo luận về các vấn đề xã hội. Kịch nói đã trở thành cầu nối giữa văn hóa thành phố và các giá trị nghệ thuật, góp phần vào sự phát triển bền vững của văn hóa nghệ thuật đương đại.

2.1. Kịch nói và văn hóa thành phố

Kịch nói đã đóng vai trò quan trọng trong việc định hình văn hóa thành phố. Các tác phẩm kịch nói thường xuyên đề cập đến các vấn đề như đô thị hóa, di dân và bản sắc văn hóa, tạo nên sự kết nối giữa nghệ thuật kịch nói và đời sống đô thị. Luận án cũng phân tích cách kịch nói đã trở thành công cụ giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề xã hội.

2.2. Sân khấu và xã hội

Sân khấu không chỉ là nơi biểu diễn mà còn là không gian phản ánh và thảo luận các vấn đề xã hội. Luận án đã chỉ ra rằng, sân khấu Việt Nam đã trở thành công cụ quan trọng trong việc thúc đẩy sự hiểu biết và đoàn kết cộng đồng. Các tác phẩm kịch nói thường xuyên đề cập đến các chủ đề như bình đẳng giới, quyền con người và phát triển bền vững, góp phần vào việc xây dựng một xã hội công bằng và văn minh.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của luận án

Luận án không chỉ có giá trị học thuật mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Nghiên cứu này đã cung cấp cái nhìn toàn diện về sự phát triển của sân khấu kịch nói trong bối cảnh văn hóa TP.HCM, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nghệ thuật sân khấu. Luận án cũng góp phần vào việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật truyền thống trong thời đại mới.

3.1. Ứng dụng trong giáo dục và đào tạo

Luận án đã đề xuất các giải pháp nhằm đưa kịch nói vào chương trình giáo dục, giúp học sinh và sinh viên hiểu rõ hơn về văn hóa nghệ thuật và các giá trị xã hội. Nghiên cứu này cũng góp phần vào việc đào tạo các thế hệ nghệ sĩ mới, những người sẽ tiếp tục phát triển nghệ thuật sân khấu trong tương lai.

3.2. Ứng dụng trong phát triển văn hóa

Luận án đã chỉ ra rằng, sân khấu kịch nói có thể trở thành công cụ quan trọng trong việc phát triển văn hóa đô thị. Các tác phẩm kịch nói không chỉ phản ánh hiện thực xã hội mà còn góp phần vào việc xây dựng một xã hội công bằng và văn minh. Nghiên cứu này cũng đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của văn hóa nghệ thuật trong thời đại mới.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn hóa học sân khấu kịch nói trong đời sống văn hóa thành phố hồ chí minh từ năm 2010 đến năm 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ LỄ HỘI ĐỀN VÀ 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về vốn xã hội Trên phương diện lịch sử, Lyda Judson Hanifan (nhà xã hội học người Mỹ) được coi là người đầu tiên đưa ra khái niệm vốn xã hội (social capital/le capital social) vào năm 1916. Ông dùng khái niệm VXH để chỉ tình thân hữu, sự thông cảm lẫn nhau, cũng như tương tác giữa các cá nhân hay gia đình.

Từ nửa sau thế kỷ XX, VXH là một trong những thuật ngữ quan trọng và phổ biến nhất trong nghiên cứu chính trị - xã hội. Sự quan tâm rộng rãi đối với VXH xuất phát từ vai trò quan trọng của VXH trong xây dựng và hoạch định sự phát triển của các xã hội và cộng đồng. Vào những năm 19 0, Jane Jacobs có đề cập lại khái niệm VXH và từ đầu những năm 1970 Bourdieu đã dùng khái niệm này trong các nghiên cứu của ông. Đến những năm 19 0, khái niệm VXH được đưa vào từ điển khoa học xã hội ( ukuyama).

Như vậy, có thể thấy, trong thời gian gần đây, trong những sinh hoạt khoa học và các bài viết trên các tờ báo, tạp chí trong nước có bàn nhiều về VXH với các tác giả đến từ nhiều ngành khoa học khác nhau như kinh tế học, luật học hay xã hội học nổi bật trên thế giới như Pierre Bourdieu, Jame Coleman cho đến Robert Putnam, rancis ukyuama, Grootaert, Guison, Woolcock, Narayan, leur Thomése, J Appold và ở Việt Nam như Trần Hữu Quang, Trần Hữu Dũng, Nguyễn Duy Thắng, Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Quý Thanh, Lương Văn Hy, Mai Thị Hạnh và Lê Minh Tiến. Có thể kể đến một số công trình nổi bật trên thế giới và ở Việt Nam như sau: Những nghiên cứu về vốn xã hội trên thế giới Pierre Bourdieu [141] nhìn nhận nguồn VXH là một mạng lưới xã hội mà thông qua VXH, những thành viên có thể tiếp cận trực tiếp nguồn lực kinh tế (vay nợ từ trợ giá, tiền quà đầu tư, thị trường được bảo hộ), họ có thể gia tăng vốn văn hóa của họ thông qua việc tiếp xúc trực tiếp với chuyên gia hay những con người tinh tế (tức biểu hiện cụ thể của vốn văn hóa) hoặc làm việc ở những cơ quan tổ chức có quyền cấp phát bằng cấp mà xã hội đánh giá cao (tức là vốn văn hóa đã được thể chế hóa). James Coleman [142] nhấn mạnh đến yếu tố con người trong VXH. Theo ông, nguồn VXH có thể được hiểu là khả năng làm việc theo nhóm của con người.

Từ đó, ông đã áp dụng lý thuyết VXH trong nghiên cứu giáo dục. Coleman đã phân biệt thành VXH trong gia đình và VXH trong cộng đồng. Theo tác giả, VXH trong gia đình chỉ có thể có được và được tích lũy khi các thành viên trong gia đình thực sự chia sẻ và quan tâm tới nhau. Coleman đã phân tích 13 mối quan hệ giữa ba loại vốn: vốn kinh tế, vốn xã hội và vốn con người và đi đến kết luận rằng cả vốn kinh tế lẫn vốn xã hội đều có ý nghĩa tích cực đối với việc tạo ra vốn con người.

Ông nhấn mạnh: vốn xã hội trong gia đình và cộng đồng có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành vốn con người cho thế hệ kế tiếp - được hiểu là kết quả học tập của con cái. Coleman đã khảo sát tỷ lệ học sinh bỏ học cũng như thành tích học tập của các em và đi đến nhận định rằng vốn xã hội của các bậc cha m có ảnh hưởng lớn đến vốn con người của con cái họ. Robert Putnam [151], nhà chính trị học người Mỹ tập trung nghiên cứu VXH trong mối quan hệ với xã hội dân sự. Áp dụng lý thuyết về VXH trong một nghiên cứu cụ thể về trò chơi bowling, năm 1995, giáo sư Robert D.

Putman viết một bài trên Tạp chí Dân chủ (The Journal of Democracy) với tựa đề “Chơi Bowling một mình: VXH ở Mỹ đang xuống”. Nước Mỹ có khoảng 0 triệu người chơi trò này vào năm 1993; có khi họ đi chơi một mình, có khi đi với bạn, hoặc gia nhập những “Hội chơi Bowling” đi giải trí với nhau. Giáo sư Putman, Đại học Havard, nhận xét rằng số người Mỹ chơi ném bóng Bowling gia tăng thêm 40% trong thời gian từ 19 0 đến 1993; nhưng số hội Bowling thì giảm. Bowling chỉ là một biểu tượng.

Putman nêu ra những triệu chứng tương tự: số cử tri Mỹ chịu đi bỏ phiếu trong ngày bầu cử giảm đi; số người gia nhập các giáo hội giảm mặc dù số người có tín ngưỡng tăng thêm; số cha m ghi tên vào Hội phụ huynh và giáo viên giảm; các hội Hướng đạo, Chữ thập đỏ cũng bớt hội viên. Người ta đóng góp tiền cho các tổ chức tôn giáo, từ thiện nhiều hơn, nhưng họ không tham dự trực tiếp vào các hoạt động chung như trước. Kết luận: VXH ở nước Mỹ đang xuống, ông Putman báo động. Putman giải thích hiện tượng VXH đi xuống này bằng những thay đổi trong đời sống.

Phụ nữ thường tham gia các giáo hội, các hội từ thiện và hoạt động lối xóm nhiều; ngày nay phụ nữ đi làm nhiều hơn, họ không có thời giờ. Người ta chậm lập gia đình, bớt lập gia đình, ít con hơn. Người Mỹ thay đổi công việc làm, thay đổi chỗ ở nhiều hơn, không ngồi lâu ở một nơi như trước. Khi xem tivi thì họ thường ngồi xem một mình chứ không họp mặt với hàng xóm như cũ, Hơn nữa, sự xuất hiện của mạng internet càng cá nhân chủ nghĩa hơn.

Theo tác giả thì đời sống hiện đại làm VXH giảm đi. Bàn về bản chất hai mặt của VXH, Fukuyama [31] nhấn mạnh đến vai trò tích cực của VXH. Ông chỉ ra cách mà vốn xã hội có thể đóng góp vào phát triển kinh tế và xóa bỏ đói ngh o. ukuyama giải thích rằng vốn xã hội đã giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển của nhiều doanh nghiệp ở Mỹ La tinh.

Vốn xã hội cũng giúp cho nhiều người vượt ra khỏi những khó khăn trong giai đoạn suy thoái kinh tế và thất nghiệp gia tăng ở khu vực này. ukuyama khẳng định vốn xã hội là những chuẩn mực không chính thức thúc đẩy sự 14 hợp tác giữa các cá nhân. Theo ông, trong các hoạt động kinh tế, mỗi cá nhân sẽ giảm được nhiều chi phí giao dịch nhờ vào vốn xã hội giữa họ. Trong bài viết của mình, tác giả cũng nói đến vai trò của nguồn VXH.

“Nó giúp ta nâng cao hiểu biết yếu tố văn hóa trong sự phát triển, và lý giải tại sao các thể chế giống hệt nhau trong những xã hội khác nhau thường có những tác động hoàn toàn trái ngược nhau. Khái niệm nguồn VXH đặt cả các chính sách và thể chế vào hoàn cảnh văn hóa chung của chúng, tránh những hy vọng hão huyền về một công thức chính sách đơn giản có thể đưa đến sự tăng trưởng kinh tế” [30, tr. Một số nghiên cứu xã hội về Colombia, Bankan, Trung Đông và nhiều vùng cận sa mạc Sahara đã đưa đến một kết luận là về mặt chính trị, điều khó khăn nhất gặp phải là một xã hội hoàn toàn thiếu lòng tin xã hội. Chính vì thế, tác giả cho rằng trong trường hợp này thì cách duy nhất có thể xây dựng được nguồn VXH trên cơ sở xã hội rộng lớn là củng cố quyền lực của luật pháp và các thể chế chính trị cơ bản mà nó phải dựa vào.

Nghiên cứu VXH dưới góc nhìn kinh tế, chúng ta phải kể đến tác giả Grootaert và Guison. Thông qua nghiên cứu “Vốn xã hội với sự thịnh vượng và đ i ngh o của các hộ gia đình ở ndon sia”, Grootaert [146] đã phân tích vai trò của vốn xã hội trong lĩnh vực kinh tế vi mô. Tác giả này chỉ ra rằng vốn xã hội đã giúp làm giảm đi khả năng rơi vào tình trạng đói ngh o của các hộ gia đình. Qua nghiên cứu “Vai trò của vốn xã hội trong phát triển tài chính” [147], Guiso và cộng sự cho biết trong những vùng có mức vốn xã hội cao, hộ gia đình thường tiếp cận với tín dụng chính thức nhiều hơn là tín dụng phi chính thức.

Điều đó khẳng định rằng mức độ vốn xã hội có được ở những nơi mà cá nhân được sinh ra có ảnh hưởng đến sự phát triển tài chính. Vai trò của vốn xã hội đối với phát triển kinh tế còn được khẳng định bởi Woolcock và Narayan qua một loạt các nghiên cứu như “Vốn xã hội và phát triển kinh tế: hướng tới một sự tổng hợp lý thuyết và khung chính sách” [156] và “Vốn xã hội: hệ quả đối với lý thuyết phát triển, nghiên cứu và chính sách” [157]. Những nghiên cứu về vốn xã hội ở Việt Nam Có thể chia các nghiên cứu về vốn xã hội trong nước thành hai nhóm: nhóm thứ nhất quan tâm đến việc tổng kết, giới thiệu lý thuyết về vốn xã hội; nhóm thứ hai tập trung vận dụng lý thuyết vốn xã hội trong các nghiên cứu thực tiễn. Về hướng nghiên cứu thứ nhất, nổi bật nhất là tác giả Trần Hữu Quang với các bài viết “Sự tin cậy, đạo đức và luật pháp” [88]; “Lòng tin trong xã hội và VXH” [90] và “Tìm hiểu khái niệm về VXH” [ 9].

Tác giả đã coi VXH như một nguồn lực chính trị và pháp luật và ông đi sâu vào phân tích nguồn gốc của sự tin cậy và lòng tin trong xã hội. Gia đình và cộng đồng là những tập thể mà người ta thường coi là điển hình cho mối quan hệ tin cậy giữa con người với nhau. Tuy nhiên, bản thân nền đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay đang lâm vào tình trạng bất ổn sâu xa do luôn đề cao 15 lợi ích và hiệu quả đạt được chứ không chú trọng tới cái phải làm như một mệnh lệnh vô điều kiện và sự yếu kém của hệ thống luật pháp cũng như bộ máy nhà nước. Khi luật pháp chưa nghiêm thì sự suy thóai đạo đức và tình trạng mất niềm tin là điều khó tránh khỏi.

Sự tin cậy tồn tại trên nền tảng của các quy ước và các chuẩn mực xã hội trong khuôn khổ của những định chế xã hội nhất định. Tác giả cũng đưa ra so sánh về VXH trong xã hội cổ truyền và xã hội hiện đại. Theo tác giả, trong xã hội cổ truyền, người ta tin nhau vì cùng là thành viên của một định chế xã hội nào đó, như làng xã, dòng tộc hay cộng đồng tôn giáo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ về sân khấu kịch nói trong văn hóa TP.HCM (2010-2020) là một nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển và ảnh hưởng của sân khấu kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2010-2020. Tài liệu này không chỉ phân tích các xu hướng nghệ thuật, sự đổi mới trong kịch bản và diễn xuất, mà còn khám phá vai trò của kịch nói trong việc phản ánh và định hình văn hóa đô thị. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách sân khấu kịch nói góp phần vào sự đa dạng văn hóa và tạo nên diện mạo nghệ thuật độc đáo của TP.HCM.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật và văn hóa, hãy khám phá thêm Luận án tiến sĩ kịch bản chèo đầu thế kỷ XX: Truyền thống và biến đổi để hiểu về sự phát triển của chèo, một loại hình nghệ thuật truyền thống khác. Bên cạnh đó, Luận án tiến sĩ bảo vệ và phát huy giá trị di sản tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương và hát xoan ở Phú Thọ sẽ cung cấp góc nhìn sâu sắc về việc bảo tồn di sản văn hóa. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ biến đổi văn hóa truyền thống của người Thái ở huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình trong phát triển du lịch cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu về sự biến đổi văn hóa trong bối cảnh hiện đại.

Mỗi liên kết trên là cơ hội để bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm những góc nhìn đa chiều về văn hóa và nghệ thuật Việt Nam.