phần mở đầu (8 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham khảo (11 trang), phụ lục (96 trang), luận án có kết cấu năm chƣơng: - Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (33 trang) - Chƣơng 2: Nhận diện giá trị di sản Tín ngƣỡng thờ cúng Hùng Vƣơng và Hát Xoan trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể ở Phú Thọ (19 trang) - Chƣơng 3: Thực trạng bảo vệ và phát huy di sản Tín ngƣỡng thờ cúng Hùng Vƣơng và Hát Xoan ở Phú Thọ (31 trang). - Chƣơng 4: Kinh nghiệm quốc tế về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (21 trang) - Chƣơng 5: Giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản Tín ngƣỡng thờ cúng Hùng Vƣơng và Hát Xoan (32 trang). 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.
Những công trình đề cập đến khái niệm, quan điểm, biện pháp bảo vệ di sản Đối với các công trình nghiên cứu liên quan đến các quan điểm bảo vệ di sản: Gregory J. Ashworth đã đƣa ra các quan điểm bảo tồn nguyên vẹn từ những thập niên 50 của thế kỷ XIX. Quan điểm này cho rằng: “Những sản phẩm của quá khứ, nên đƣợc bảo vệ một cách nguyên vẹn, nhƣ nó vốn có, cố gắng phục hồi nguyên gốc các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể cũng nhƣ cố gắng cách ly di sản khỏi môi trƣờng xã hội đƣơng đại” [121]. Một số học giả nhƣ Alfrey, Putnam, Ashworth và P.
Larkham… đƣa ra các quan điểm “bảo vệ trên cơ sở kế thừa”. Các học giả này xem di sản nhƣ những thiết chế văn hoá có giá trị thƣơng mại, giá trị kinh tế và giá trị du lịch. Từ đó, cần phải có cách thức quản lý di sản tƣơng tự nhƣ cách thức quản lý một ngành công nghiệp văn hoá. Quan điểm này có sự nhìn nhận linh hoạt dựa trên cơ sở mỗi di sản cần đƣợc thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian và không gian cụ thể.
Khi tồn tại ở thời gian và không gian nào, di sản ấy cần phát huy giá trị văn hoá xã hội phù hợp và phải loại bỏ những thứ không còn phù hợp với xã hội ấy. Lucas Lixinski (2013), Intangible Cultural Heritage in International Law (Cultural Heritage Law And Policy) Di sản văn hóa phi vật thể trong Luật quốc tế (Luật Di sản văn hóa và Chính sách) đã phân tích toàn diện về các vấn đề pháp lý xung quanh DSVHPVT. Theo đó, DSVHPVT đƣợc bảo vệ trên ba cấp độ khác nhau: quốc tế, khu vực và quốc gia. Lixinski cũng đƣa ra các tranh luận lý thuyết cũng nhƣ các vấn đề pháp lý về nội dung và thể chế phức tạp xung quanh bảo vệ DSVHPVT; đồng thời đề cập chủ đề bao trùm trong các nỗ lực để bảo vệ di sản và cung cấp các biện pháp, giải quyết các khó khăn trong việc bảo vệ pháp lý cho sự phát triển và sự tồn tại đa dạng của các nền văn hóa [126].TS Ngô Đức Thịnh trong công trình Bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể đã giới thiệu phân loại di sản văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể, các dạng 10 thức chính của văn hóa phi vật thể đó là ngữ văn truyền miệng, các hình thức trình diễn xƣớng và trình diễn, những hành vi ứng xử, các hình thức nghi lễ, tín ngƣỡng, tôn giáo, phong tục, lễ hội, tri thức dân gian.
Tác giả đã nghiên cứu một số đặc trƣng của văn hóa PVT. Từ đó đề ra các giải pháp sƣu tầm, bảo tồn và phát huy văn hóa phi vật thể dƣới dạng “tĩnh” và dạng “động” và nhất là giải pháp bảo vệ con ngƣời - nghệ nhân văn hóa - “báu vật sống” của nhân loại [91].TS Trƣơng Quốc Bình trong công trình Về mối quan hệ văn hóa và du lịch đã nghiên cứu và phân tích về mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và du lịch đƣợc thể hiện rõ trong sự kiên kết giữa việc bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử và văn hóa. Tác giả đã chỉ ra đƣợc những tác động tiêu cực do hoạt động du lịch gây ra đối với việc bảo tồn di sản văn hóa nói riêng và nếp sống văn hóa nói chung. Qua đó đề xuất các giải pháp quản lý văn hóa và phát triển du lịch bền vững [10].
Công trình Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể: Quan niệm quốc tế và chính sách pháp luật của một số quốc gia - Trƣơng Hồng Quang đã khái quát sự hình thành và phát triển chính sách bảo tồn hệ thống DSVHPVT trên thế giới từ năm 1939 cho đến nay, phân tích các quan niệm về DSVHPVT của UNESCO và một số quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam, từ đó rút ra những nhận xét về điểm giống và khác nhau trong các quan niệm. Tác giả cũng đƣa ra một số chính sách bảo vệ DSVHPVT tại một số quốc gia cụ thể nhƣ Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Philipin. Đây là những thông tin rất hữu ích giúp NCS tham khảo các biện pháp bảo vệ DSVHPVT của một số quốc gia trong khu vực để so sánh và vận dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Công trình Du lịch và di sản văn hóa phi vật thể (Tourism and Intangible Cultural Heritage) xuất bản năm 2012 của Tổ chức du lịch thế giới (World Tourism Organization UNWTO) đã đánh giá cơ hội cũng nhƣ thách thức lớn, rủi ro của phát triển du lịch liên quan đến DSVHPVT, đồng thời gợi ý các bƣớc thực tế cho việc lập, quản lý và tiếp thị các sản phẩm du lịch DSVHPVT [130].
Các tƣ liệu của công trình này cung cấp thông tin khá đầy đủ và có tính thuyết phục trên cơ sở phân tích hành động của chính phủ chỉ đạo, quan hệ đối tác công -tƣ và các sáng kiến cộng 11 đồng. Tƣ liệu này cũng tiếp tục cung cấp các khuyến nghị về thúc đẩy phát triển du lịch có trách nhiệm và bền vững thông qua việc bảo vệ DSVHPVT. Tác giả Đinh Thị Minh Tuyết với công trình Giáo dục ý thức bảo tồn lễ hội truyền thống ở Việt Nam: Tiếp cận từ góc độ nhà quản lý, tác giả đã nghiên cứu và nêu những thách thức đối với việc bảo tồn các lễ hội truyền thống nhƣ vấn đề nhận thức, văn hóa ứng xử với lễ hội truyền thống, môi trƣờng, thƣơng mại hóa…Tác giả đã có những nhận định sâu sắc, toàn diện về những thách thức trong việc bảo tồn lễ hội truyền thống ở Việt Nam mà thách thức cơ bản nhất là do sự hạn chế, bất cập về tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống [107]. Tác giả Nguyễn Phƣơng Lan trong Chính sách bảo tồn, khai thác tài nguyên du lịch lễ hội đã giới thiệu một số chính sách của Đảng và Nhà nƣớc nhằm đẩy mạnh công tác bảo tồn, khai thác di sản văn hóa trong đó có lễ hội dân gian Việt Nam từ năm 1945 đến nay.
Tác giả cũng chỉ ra những bấp cập trong công tác quản lý khai thác du lịch lễ hội với những nguyên nhân khách quan và chủ quan mà hai ngành Văn hóa và Du lịch cần nhận thức và giải quyết. Từ góc độ chính sách văn hóa, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị tích cực của lễ hội, khai thác tốt nguồn tài nguyên du lịch lễ hội trong thời gian tiếp theo [46]. Tác giả Phạm Văn Dƣơng trong công trình Từ lễ hội đền Hùng đến lễ hội dân tộc - quốc gia vị trí, vai trò của người dân với việc gìn giữ nét truyền thống đã giới thiệu quá trình phát triển của không gian lễ hội đền Hùng từ phạm vi địa phƣơng đến khi trở thành lễ hội chung của dân tộc - quốc gia, khẳng định vị trí, vai trò của ngƣời dân trong việc gìn giữ nét truyền thống của lễ hội đền Hùng và tầm quan trọng, giá trị to lớn, sự thiêng liêng của lễ hội đền Hùng trong tâm thức cả dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả cho rằng với việc ngày càng chuyên nghiệp hóa lễ hội đền Hùng bằng các kịch bản, vai trò của ngƣời dân đối với lễ hội trong những năm gần đây bị hạn chế và mờ nhạt.Tác giả cũng nêu quan điểm cần nhìn nhận lại vai trò của Nhà nƣớc và ngƣời dân trong vùng văn hóa Hùng Vƣơng [115].
Tác giả Lê Thị Minh Lý trong Bảo vệ tập quán xã hội, nghi lễ và lễ hội thờ Hùng Vương ở Phú Thọ - đã nhận định hoàn cảnh và phân tích quá trình bảo vệ di 12 sản văn hóa phi vật thể tại Việt Nam cùng với những hệ quả kéo theo nhƣ: sự vận dụng một cách máy móc và cứng nhắc những khái niệm và biện pháp bảo vệ di sản vật thể đối với di sản phi vật thể làm cho quá trình bảo vệ di sản phi vật thể ở Việt Nam một thời gian dài bị hạn chế, thiếu hiệu quả, lúng túng và trì trệ… Tác giả phân tích những chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động bảo vệ di sản ở Việt Nam sau khi tiếp cận với những quan điểm của quốc tế, của UNESCO và đặc biệt từ khi có Công ƣớc 2003. Bên cạnh đó là những thách thức và đề xuất, phƣơng pháp để bảo vệ tập quán xã hội, nghi lễ và lễ hội thờ Hùng Vƣơng ở Phú Thọ [115]. Tác giả Lê Thị Hoài Phƣơng trong Bảo tồn Hát Xoan (Phú Thọ) gắn liền với không gian thờ cúng Hùng Vương đã nghiên cứu vấn đề bảo tồn Hát Xoan ở Phú Thọ gắn liền với không gian thờ cúng Hùng Vƣơng qua việc trả lời và giải quyết từng câu hỏi: Bảo tồn bằng cách nào? Bảo tồn bằng cái gì? Bảo tồn nhƣ thế nào? Từ những phân tích trên, tác giả đề xuất một số ý kiến mang tính phƣơng pháp luận nhƣ: khôi phục lại càng sớm càng tốt môi trƣờng văn hóa cho Hát Xoan, Việc truyền dạy nghệ thuật Hát Xoan, chính sách của nhà nƣớc hỗ trợ vật chất cho hoạt động này [115].