Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ văn học của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh với đề tài "Kịch bản chèo đầu thế kỷ XX - truyền thống và biến đổi" (chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số 9.21, bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Trọng Thưởng) tập trung nghiên cứu sự vận động của kịch bản chèo trong giai đoạn giao thời văn hóa nửa đầu thế kỷ XX.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
- Về mặt lý luận: Trong lịch sử nghiên cứu sân khấu truyền thống, chèo thường được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc và vũ đạo. Phương diện kịch bản văn học chưa được nghiên cứu tương xứng, tạo ra khoảng trống lý luận trong việc xác định vị trí của kịch bản kịch hát dân tộc trong văn học sử Việt Nam. Luận án đi sâu nghiên cứu kịch bản chèo nhằm làm rõ tính chất và giá trị văn học của thể loại này.
- Về mặt thực tiễn tư liệu: Kịch bản kịch hát đầu thế kỷ XX nói chung và kịch bản chèo cải lương nói riêng từng rơi vào tình trạng thiếu vắng các công trình sưu tập và nghiên cứu tổng thể. Chèo cải lương nửa đầu thế kỷ XX là một hiện tượng có nhiều thành tựu nhưng chưa được lý giải đầy đủ về quy luật vận động cũng như tác động của nó đối với nghệ thuật sân khấu đương đại.
- Về tính thời sự: Tranh luận về ranh giới giữa bảo tồn các giá trị "nội sinh" của chèo truyền thống và tiếp thu các yếu tố "ngoại sinh" từ kịch phương Tây vẫn là vấn đề tồn tại trong sáng tác chèo hiện nay. Việc đánh giá những thành công và hạn chế trong các thử nghiệm cách tân chèo đầu thế kỷ XX của soạn giả Nguyễn Đình Nghị cung cấp cơ sở nhận thức cho hoạt động sáng tác và bảo tồn nghệ thuật kịch hát dân tộc.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc đối sánh kịch bản chèo cải lương với kịch bản chèo cổ, luận án phân tích các phương diện kế thừa (phát triển) và biến đổi (làm mờ nhạt đặc trưng thể loại) trong sáng tác của Nguyễn Đình Nghị; làm sáng tỏ tiến trình vận động của kịch bản chèo nửa đầu thế kỷ XX và rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trình hiện đại hóa các loại hình nghệ thuật truyền thống.
Nhiệm vụ nghiên cứu (được đánh số theo văn bản):
- Tổng hợp tư liệu để khái quát về sự biến đổi của các loại hình văn học - nghệ thuật đầu thế kỷ XX dưới tác động của văn hóa Pháp và văn minh phương Tây cùng các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội.
- Lựa chọn và phân tích kịch bản chèo; nghiên cứu cấu trúc tự sự của kịch bản chèo đầu thế kỷ XX; so sánh chỉ rõ các yếu tố truyền thống và biến đổi giữa kịch bản chèo truyền thống và chèo cải lương trên các phương diện: cốt truyện, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật.
- Phân tích, so sánh và chỉ ra các xu hướng đổi mới trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX: xu hướng bác học hóa, xu hướng tiếp cận chủ nghĩa hiện thực, xu hướng hài hóa và xu hướng gia tăng xung đột kịch.
- Khái quát, đánh giá ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu; nhận diện các yếu tố truyền thống và cách tân trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Kịch bản chèo đầu thế kỷ XX, trọng tâm là kịch bản chèo cải lương của soạn giả Nguyễn Đình Nghị, được đặt trong tương quan đối sánh với kịch bản chèo cổ (chèo truyền thống).
- Phạm vi tư liệu khảo sát:
- Kịch bản chèo cổ: Khảo sát 7 kịch bản trong cuốn Tuyển tập Chèo cổ (Nxb Sân khấu, 1999) do PGS. Hà Văn Cầu sưu tầm và chú thích, bao gồm: Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình - Dương Lễ, Kim Nham, Chu Mãi Thần, Tôn Mạnh - Tôn Trọng, Từ Thức.
- Kịch bản chèo cải lương: Khảo sát 60 kịch bản của Nguyễn Đình Nghị theo thống kê của nhà nghiên cứu Lê Thanh Hiền, tập trung trực tiếp vào 34 tác phẩm in trong Tuyển tập Chèo cải lương Nguyễn Đình Nghị (3 tập, Cục Nghệ thuật Sân khấu, 1994) và Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Kịch bản chèo 1900-1945), quyển 6 tập 1 (Nxb Văn học, 2006).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 1900 - 1945. Trong đó, chèo văn minh hoạt động từ 1913 đến 1924; chèo cải lương phát triển từ 1924 đến trước 1945; chèo cổ tiếp tục tồn tại ở các vùng nông thôn Bắc Bộ.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào văn bản kịch bản chèo dưới góc độ cấu trúc tự sự văn học, đồng thời khảo sát các chỉ dẫn biểu diễn (nói, hát, làn điệu, âm nhạc, vũ đạo, ước lệ) để làm rõ mối quan hệ giữa kịch bản văn học và nghệ thuật sân khấu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được tác giả điểm lại
1. Về vị trí của kịch bản kịch hát trong lịch sử văn học dân tộc
- Lương Thế Vinh (1501) với Hý phường phả lục được ghi nhận là công trình lý luận đầu tiên về nghệ thuật kịch hát cổ truyền, xác lập các nguyên tắc diễn xuất, múa hát và đánh trống chèo.
- Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) trong Vũ Trung tùy bút ghi chép rải rác về sinh hoạt ca vũ kịch hát thời Lê - Trịnh và nguồn gốc danh xưng "trạo phường".
- Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu (1943) lần đầu tiên đưa kịch bản sân khấu vào năm thành tố cấu thành văn học sử Việt Nam (bên cạnh triết học, lịch sử, thi văn, tiểu thuyết), xếp tuồng và chèo vào thể loại văn Nôm.
- Nghiêm Toản trong Việt Nam văn học sử trích yếu (1949) đồng nhất quan điểm coi tuồng và chèo là thể loại văn Nôm.
- Phạm Thế Ngũ trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (quyển II) đưa ra quan điểm đối lập khi loại trừ ca kịch (tuồng, chèo) ra khỏi văn học sử vì cho rằng ca nhạc vũ là cốt lõi, văn chương chỉ giữ vai trò phụ thuộc.
2. Về nguồn gốc chèo truyền thống
Luận án hệ thống hóa 4 nhóm quan điểm chính:
- Nhóm 1 (Nguồn gốc ngoại lai/du nhập): Căn cứ vào Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên về sự kiện Lý Nguyên Cát dạy hát tuồng thời Trần; quan điểm này được Đào Duy Anh (Việt Nam văn hóa sử cương), Phạm Đình Hổ, Nguyễn Đổng Chi (Việt Nam cổ văn học sử), và nhóm tác giả Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đổng Chi (Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập 5) ghi nhận.
- Nhóm 2 (Bắt nguồn từ chữ "trào" - giễu cợt): Khởi xướng bởi Nguyễn Thúc Khiêm (Khảo cứu về hát tuồng và chèo, Tạp chí Nam Phong, 1928), sau đó được Trần Huyền Trân (1956) và Cao Kim Điển (1958) đồng tình.
- Nhóm 3 (Bắt nguồn từ nghi lễ tôn giáo, tang lễ, động tác "chèo thuyền"): Nghiên cứu của Vũ Khắc Khoan (Tìm hiểu sân khấu chèo), Trần Việt Ngữ, Đặng Văn Lung và Nguyễn Hữu Thu (Thêm một giả thiết về nguồn gốc của chèo).
- Nhóm 4 (Nguồn gốc thuần túy dân tộc từ trò nhại và dân ca dân vũ): Nhận định của Hoàng Ngọc Phách và Huỳnh Lý (Chèo và Tuồng), Trần Việt Ngữ và Hoàng Kiều (Bước đầu tìm hiểu sân khấu Chèo, 1964), Hà Văn Cầu (Quá trình hình thành và phát triển của nghệ thuật chèo), GS. Trần Bảng (Chèo - Một hiện tượng sân khấu dân tộc / Khái luận về chèo), Hoàng Châu Ký (Sơ khảo lịch sử nghệ thuật tuồng), và Lê Chí Quế (Giáo trình Văn học dân gian).
3. Về đặc trưng nghệ thuật và kịch bản chèo cổ
- Trần Huyền Trân (1956) phân tích tính trào phúng, chất thơ, làn điệu và sự tham gia của khán giả qua tiếng đế.
- Lộng Chương (1958, 1966) nghiên cứu phương thức tự sự liên tục và thủ pháp ước lệ qua vở Quan Âm Thị Kính.
- Hà Văn Cầu (1964) trong Tìm hiểu phương pháp viết chèo khẳng định chèo thuộc thể loại tự sự dân gian, hành động kịch triển khai theo trật tự thời gian tuyến tính.
- Hoàng Kiều (1977) phân tích ngôn ngữ ước lệ của sân khấu ba mặt, tính "chuyên dùng" và "đa dùng" của làn điệu.
- Trần Việt Ngữ (1983) đúc kết 6 đặc điểm của chèo cổ: tính khuyến giáo đạo đức, kịch hát tổng hợp, tính bi - hài dân tộc, sân khấu kể chuyện tự sự, tính ước lệ - cách điệu, tính chuyên dùng - đa dùng.
- GS. Trần Bảng (1994, 1999) xác lập 3 nguyên tắc cơ bản của chèo: tự sự, ước lệ, mô hình hóa và chuyển hóa mô hình.
- Nguyễn Thị Nhung (1969, 1986) phân tích tính trần thuật của kịch bản chèo và sự phân cách thể loại giữa chèo truyền thống và kịch nói (Drama).
4. Về Nguyễn Đình Nghị và chèo cải lương
- Trần Đình Hượu và Lê Chí Dũng (Văn học Việt Nam giai đoạn giao thời 1900 - 1930, 1988) nhìn nhận việc cải cách chèo thành chèo văn minh, chèo cải lương là nỗ lực thị dân hóa nhưng khó phát triển bền vững.
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học 1994 và cuốn sách Nguyễn Đình Nghị với sự phát triển nghệ thuật chèo (Viện Sân khấu, 1995) tập hợp ý kiến của GS. Trần Bảng, Tất Thắng, Trần Đình Ngôn, Trần Việt Ngữ, PGS.TS Nguyễn Văn Thành, Hà Văn Cầu, Trần Trí Trắc.
- Lê Thanh Hiền (1994, 2006, 2007) sưu tầm, hệ thống hóa văn bản kịch bản chèo giai đoạn 1900 - 1945.
- Lê Việt Hùng (2009) trong Góp phần tìm hiểu tác gia chèo phân tích nghệ thuật tiếng cười và việc phát triển hệ thống hề tính cách tả thực.
- Trần Đình Ngôn và Trần Văn Hiếu (2011) chủ biên cuốn Nguyễn Đình Nghị - cuộc đời và sự nghiệp.
- Nguyễn Thị Huế (2016) thực hiện luận văn thạc sĩ Chèo tân thời trong tiến trình hiện đại hóa văn học sân khấu Việt Nam.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình đi trước phần lớn khảo sát Nguyễn Đình Nghị ở góc độ lịch sử sân khấu, kỹ thuật biểu diễn hoặc tiếng cười sân khấu, phần kịch bản văn học chỉ được tóm lược cốt truyện sơ lược. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát toàn diện hệ thống văn bản kịch bản chèo đầu thế kỷ XX, phân tích các thành tố thi pháp tự sự (cốt truyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, không gian, thời gian) trong thế đối sánh giữa chèo cổ và chèo cải lương, làm rõ những biến đổi khi chuyển từ sáng tác dân gian sang sáng tác cá thể hóa có bản quyền.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm công cụ
- Chèo cổ: Là hình thức chèo do các nghệ nhân sáng tác theo phương thức dân gian (khuyết danh, tập thể, truyền miệng, tồn tại dưới dạng nhiều dị bản, biểu diễn ngẫu hứng theo chu trình mở trên sân đình từ trước năm 1945).
- Chèo truyền thống: Khái niệm theo GS. Trần Bảng và TS. Trần Đình Ngôn, chỉ các vở chèo cổ đã được các nhà nghiên cứu, tác giả chỉnh lý hoặc cải biên nhưng vẫn bảo tồn những nguyên tắc nghệ thuật cơ bản của chèo cổ.
- Chèo hiện đại: Hiểu theo nghĩa hẹp là chèo phản ánh đời sống đương thời; theo nghĩa rộng là các tác phẩm do tác giả hiện đại sáng tác phục vụ công chúng đương thời từ nhiều nguồn đề tài khác nhau.
- Chèo văn minh (1913 - 1924) và Chèo cải lương (1924 - 1945): Các hình thức chèo cách tân đô thị đầu thế kỷ XX, trong đó chèo cải lương gắn liền với vai trò chủ soái của Nguyễn Đình Nghị.
- Lý thuyết tiếp biến văn hóa và quan niệm nội sinh - ngoại sinh: Tiếp thu cách tiếp cận của PGS. Hà Văn Cầu để phân định các yếu tố "nội sinh" (cấu trúc tự sự, chất chèo, làn điệu dân tộc) và "ngoại sinh" (tả thực, kết cấu màn hồi của kịch phương Tây) trong quá trình biến đổi thể loại.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án là công trình nghiên cứu định tính, sử dụng các phương pháp nghiên cứu văn học và liên ngành:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành văn hóa: Phương pháp chủ đạo nhằm đặt kịch bản chèo trong bối cảnh giao lưu văn hóa Đông - Tây và tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
- Phương pháp thi pháp học: Phân tích các yếu tố cấu trúc tự sự của kịch bản văn học (cốt truyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật).
- Phương pháp văn học so sánh: Đối sánh trực tiếp giữa 7 kịch bản chèo cổ tiêu biểu và các kịch bản chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị.
- Phương pháp xã hội học văn học: Khảo sát sự thay đổi của công chúng thị dân và tác động của cơ chế thị trường đến phương thức sáng tác và dàn dựng kịch bản.
Nguồn tư liệu khảo sát
| Nhóm kịch bản |
Số lượng |
Nguồn xuất bản / Biên soạn |
Đặc điểm văn bản |
| Kịch bản chèo cổ |
7 kịch bản (Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình - Dương Lễ, Kim Nham, Chu Mãi Thần, Tôn Mạnh - Tôn Trọng, Từ Thức) |
Tuyển tập Chèo cổ, PGS. Hà Văn Cầu sưu tầm và chú thích, Nxb Sân khấu, 1999 |
Văn bản đã được hiệu đính, chú thích, chưa qua chỉnh lý cải biên hiện đại |
| Kịch bản chèo cải lương |
60 kịch bản được thống kê; 34 kịch bản được in thành sách |
Tuyển tập Chèo cải lương Nguyễn Đình Nghị (3 tập, 1994) & Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Kịch bản chèo 1900-1945), quyển 6 tập 1 (2006), do Lê Thanh Hiền biên soạn |
Kịch bản có định danh tác giả, có phân cảnh, phân lớp, ghi rõ lời thoại và làn điệu |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này tổng thuật lịch sử phát triển của sân khấu chèo từ khởi nguồn thế kỷ X (thời Đinh với nghệ nhân Phạm Thị Trân) qua các triều đại Lý, Trần, Lê đến đầu thế kỷ XX. Tác giả phân tích tình trạng thiếu vắng trước tác lý luận thời phong kiến do chính sách ức chế nghệ thuật xướng ca của Nho giáo (như các điều cấm trong Bộ luật Hồng Đức thời Lê Thánh Tông), ngoài bản in khắc gỗ Hý phường phả lục (1501) của Lương Thế Vinh. Chương 1 tổng hợp các hướng nghiên cứu hiện đại về nguồn gốc, thi pháp chèo cổ và tổng quan các luồng ý kiến đánh giá về phong trào chèo cải lương cùng vai trò của soạn giả Nguyễn Đình Nghị.
Chương 2: Giao lưu văn hóa Đông - Tây và những xu hướng cách tân kịch bản chèo đầu thế kỷ XX
Chương 2 phân tích bối cảnh chuyển dịch mô hình văn hóa - xã hội Việt Nam từ cấu trúc nông nghiệp phong kiến sang đô thị thuộc địa nửa phong kiến dưới tác động của hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp. Sự xuất hiện của chữ Quốc ngữ, kỹ thuật in ấn hiện đại và báo chí (từ Gia Định báo 1865, Bảo hộ Nam dân 1888 đến sự gia tăng với 308 tờ báo vào năm 1938) đã tạo điều kiện cho văn học thương mại hóa và hình thành lớp công chúng thị dân mới.
Chương này chỉ ra 4 xu hướng cách tân nổi bật trong kịch bản chèo cải lương:
- Xu hướng bác học hóa: Tác phẩm có tác giả đứng tên, có bản quyền; văn bản hóa kịch bản bằng chữ Quốc ngữ; trau chuốt lời văn theo quy chuẩn văn học viết.
- Xu hướng tiếp cận chủ nghĩa hiện thực: Chuyển từ đề tài cổ tích, đạo đức phong kiến sang phản ánh trực tiếp các hiện tượng xã hội đô thị đương thời ("mượn xưa nói nay" hoặc trực tả đời sống thị thành).
- Xu hướng hài hóa: Mở rộng tiếng cười từ các màn trò hài ngắn phân tán trong chèo cổ thành các vở hài kịch trọn vẹn, sử dụng tiếng cười phê phán thói hư tật xấu của tầng lớp thị dân.
- Xu hướng gia tăng xung đột kịch: Tiếp nhận kỹ thuật xung đột và hành động kịch từ kịch cổ điển Pháp (kịch Thái Tây), phá vỡ kết cấu kể chuyện dàn trải của chèo truyền thống.
Chương 3: Nhân vật, cốt truyện trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX
Chương 3 so sánh thi pháp nhân vật và cốt truyện giữa hai mô hình kịch bản:
- Về nhân vật:
- Nhân vật người kể chuyện: Ở chèo cổ, chức năng tự sự phân tán qua tiếng đế, nhân vật tự giới thiệu (xưng danh); ở chèo cải lương, người kể chuyện rút lui để nhân vật tự bộc lộ qua hành động và đối thoại trực tiếp.
- Nhân vật trung tâm: Chèo cổ xây dựng nhân vật theo các mô hình chức năng đạo đức phân tuyến rạch ròi (đào thương, đào lệch, sinh, lão, mụ); chèo cải lương đưa lên sân khấu các nhân vật mang diện mạo xã hội đương thời (ông phán, thầy thông, cô đầu, me Tây, chú khách, thằng nhỏ, con sen).
- Vai hề: Chèo cổ có hề gậy và hề áo ngắn đóng vai trò phụ trợ giải tỏa căng thẳng; chèo cải lương chuyển hóa thành các "hề tính cách" tả thực (như vợ chồng thầy Đồ, vợ chồng ông Chài, vợ chồng Mụ Quán), đẩy cái hài thành bản chất tính cách nhân vật.
- Về cốt truyện:
- Chèo truyền thống: Cốt truyện dựa vào truyện thơ, cổ tích dân gian, vận động theo quy luật nhân quả luân lý "ở hiền gặp lành", kết cấu theo tiến trình thời gian tuyến tính có hậu.
- Chèo cải lương: Cốt truyện được sáng tạo mới hoặc cải biên tích cổ theo lối tả chân, tập trung vào những tình huống xung đột gia đình, xã hội đương thời, giảm bớt yếu tố kỳ ảo, hoang đường.
Chương 4: Kết cấu, ngôn ngữ, không gian và thời gian nghệ thuật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX
Chương 4 hoàn thiện việc đối sánh các thành tố cấu trúc văn bản:
- Kết cấu: Chèo truyền thống có kết cấu tự sự liền mạch, phân chia theo lớp trò gắn với diễn xướng chiếu chèo sân đình không phông màn. Chèo cải lương tiếp thu mô hình kịch phương Tây, chia vở diễn thành hồi (màn) và cảnh cố định, quy định thời lượng biểu diễn trong không gian rạp hộp.
- Ngôn ngữ kịch bản: Chèo cổ sử dụng chủ yếu thể thơ lục bát, song thất lục bát và ngôn ngữ hát ví, ngâm vịnh dân gian. Chèo cải lương kết hợp thơ ca truyền thống với văn xuôi đời thường, đưa lời ăn tiếng nói đường phố, khẩu ngữ thị dân vào lời thoại, gia tăng các chỉ dẫn sân khấu cụ thể.
- Không gian và thời gian nghệ thuật:
- Không gian: Chèo cổ là không gian ước lệ, đồng hiện ba mặt trên mảnh chiếu sân đình; chèo cải lương là không gian sân khấu hộp có phông màn, cánh gà, bài trí đạo cụ và cảnh trí theo xu hướng tả thực.
- Thời gian: Chèo cổ là thời gian tâm lý, thời gian trần thuật trải dài theo cuộc đời nhân vật; chèo cải lương dồn nén thời gian vào các thời điểm xung đột bùng nổ, tuân thủ chặt chẽ hơn trật tự thời gian kịch tính.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về khoa học và lý luận
- Xác lập vị trí văn học của kịch bản chèo: Khẳng định kịch bản chèo là một thành tố của văn học kịch dân tộc, cần được nghiên cứu bình đẳng với các thể loại văn học khác trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX.
- Nhận diện bản chất cách tân của chèo cải lương: Làm sáng tỏ tính hai mặt trong thử nghiệm của Nguyễn Đình Nghị:
- Về mặt kế thừa: Chèo cải lương vẫn giữ được trục cấu trúc tự sự và chất liệu âm nhạc, làn điệu dân gian làm nền tảng nội sinh.
- Về mặt biến đổi: Việc tiếp thu kịch phương Tây (kịch Thái Tây) theo lối "trích thực tả chân", chia hồi màn, gia tăng xung đột và hài hóa triệt để đã tạo ra bước ngoặt chuyển đổi phương thức sáng tác từ dân gian vô danh sang cá thể hóa có bản quyền tác giả.
- Hệ thống hóa thi pháp kịch bản chèo giai đoạn 1900 - 1945: Khảo sát và tổng hợp toàn diện các thành tố cấu trúc tự sự (cốt truyện, nhân vật, kết cấu, ngôn ngữ, không gian, thời gian) của 60 kịch bản chèo cải lương trong sự đối sánh với 7 kịch bản chèo cổ tiêu biểu.
Đóng góp về mặt thực tiễn và bài học kinh nghiệm
- Cung cấp nguồn tư liệu và hệ thống phân tích văn bản phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lịch sử văn học và sân khấu kịch hát dân tộc.
- Rút ra bài học cho việc sáng tác và bảo tồn nghệ thuật truyền thống hiện nay: Tránh khuynh hướng cơ học biến chèo thành "kịch cắm ca", "kịch cắm chèo"; bảo đảm sự hài hòa giữa việc giữ gìn các yếu tố ước lệ, tự sự nội sinh và việc tiếp thu các kỹ thuật biên kịch hiện đại.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Luận án tập trung khảo sát chuyên sâu vào các sáng tác của soạn giả Nguyễn Đình Nghị (34 kịch bản được in và 60 kịch bản được thống kê) cùng 7 kịch bản chèo cổ tiêu biểu trong Tuyển tập Chèo cổ của PGS. Hà Văn Cầu; chưa mở rộng khảo sát chi tiết toàn bộ tác phẩm của các soạn giả chèo cải lương khác cùng thời kỳ (như Đỗ Thân, Phan Chu Sĩ, Nguyễn Ngọc Châu, Khắc Nhẫn, Nguyễn Thúc Khiêm).
- Do giới hạn nguồn tư liệu ghi chép lịch sử thời phong kiến (nhiều văn bản thất truyền như bản in khắc gỗ gốc của Hý phường phả lục), việc phục dựng diện mạo văn bản chèo cổ trước thế kỷ XX chủ yếu dựa trên các bản chép tay và tư liệu sưu tầm từ nửa sau thế kỷ XX.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các kịch bản của các tác giả chèo cải lương khác giai đoạn 1900 - 1945 để có cái nhìn toàn cảnh hơn về phong trào chèo thành thị.
- Đi sâu nghiên cứu sự tương tác giữa văn bản kịch bản và nghệ thuật diễn xướng (âm nhạc, vũ đạo, mỹ thuật sân khấu) trong các giai đoạn chuyển đổi sau năm 1945.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu văn học - sân khấu: Công trình là tài liệu tham khảo về phương pháp tiếp cận thi pháp học kịch bản kịch hát dân tộc; cung cấp hệ thống tư liệu tổng thuật về lịch sử chèo và các trường phái nghiên cứu sân khấu truyền thống tại Việt Nam.
- Đối với giảng viên và các cơ sở đào tạo chuyên ngành: Tài liệu phục vụ trực tiếp cho các học phần Lịch sử văn học Việt Nam (giai đoạn 1900 - 1945), Lịch sử sân khấu kịch hát dân tộc, và Lý luận kịch bản sân khấu tại các trường đại học khoa học xã hội và nghệ thuật.
- Đối với tác giả biên kịch, đạo diễn và nhà quản lý văn hóa: Luận án cung cấp các phân tích thực tiễn về những thành công và hạn chế của mô hình chèo cải lương, hỗ trợ định hướng trong sáng tác kịch bản chèo hiện đại và xây dựng chính sách bảo tồn di sản nghệ thuật truyền thống.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn nhóm quan điểm chính về nguồn gốc của chèo truyền thống được luận án tổng thuật gồm những gì?
Luận án chia các nghiên cứu về nguồn gốc chèo thành 4 nhóm:
- Nhóm cho rằng chèo du nhập từ nước ngoài (gắn với sự kiện tù binh Lý Nguyên Cát thời Trần).
- Nhóm cho rằng danh xưng chèo bắt nguồn từ chữ "trào" (nghĩa là trào lộng, giễu cợt).
- Nhóm cho rằng chèo xuất phát từ nghi lễ tế lễ, tang ma và động tác "chèo thuyền" của cư dân văn minh lúa nước.
- Nhóm khẳng định chèo là nghệ thuật thuần túy dân tộc nảy sinh từ trò nhại, dân ca và dân vũ dân gian vùng đồng bằng Bắc Bộ từ thời Đinh - Lý.
2. Sự khác biệt cơ bản về phương thức sáng tác giữa kịch bản chèo cổ và kịch bản chèo cải lương là gì?
Kịch bản chèo cổ được sáng tạo theo phương thức dân gian: tập thể, khuyết danh, truyền miệng, tồn tại qua các dị bản và mang cấu trúc mở để diễn viên ứng diễn. Ngược lại, kịch bản chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị đánh dấu bước ngoặt sáng tác cá thể hóa: có tác giả cụ thể đứng tên, xác lập bản quyền, văn bản hóa cố định lời thoại và chỉ dẫn làn điệu, phân chia màn hồi rõ ràng theo mô hình kịch bản hiện đại.
3. Bốn xu hướng cách tân nổi bật trong kịch bản chèo đầu thế kỷ XX được phân tích trong luận án là gì?
Bốn xu hướng gồm:
- Bác học hóa: Nâng cao tính văn học của văn bản kịch bản chữ Quốc ngữ.
- Tiếp cận chủ nghĩa hiện thực: Đưa các vấn đề, thói hư tật xấu và con người của xã hội thị dân đương thời vào kịch bản.
- Hài hóa: Phát triển các màn trò hài ngắn thành các vở hài kịch trọn vẹn với hệ thống hề tính cách tả thực.
- Gia tăng xung đột kịch: Tiếp thu thủ pháp xung đột kịch của sân khấu phương Tây vào mạch diễn xướng truyền thống.
4. Luận án sử dụng các hệ thống văn bản kịch bản cụ thể nào để khảo sát và đối sánh?
Luận án khảo sát 7 kịch bản chèo cổ trong Tuyển tập Chèo cổ (Nxb Sân khấu, 1999) do PGS. Hà Văn Cầu sưu tầm, hiệu đính (Quan Âm Thị Kính, Trương Viên, Lưu Bình - Dương Lễ, Kim Nham, Chu Mãi Thần, Tôn Mạnh - Tôn Trọng, Từ Thức) và 60 kịch bản chèo cải lương của Nguyễn Đình Nghị (trong đó có 34 tác phẩm in trong Tuyển tập Chèo cải lương Nguyễn Đình Nghị, 1994 và Văn học Việt Nam thế kỷ XX, quyển 6 tập 1, 2006 do Lê Thanh Hiền biên soạn).
5. Luận án đánh giá như thế nào về mặt được và mặt mất trong cuộc cách tân của Nguyễn Đình Nghị?
Về mặt được, Nguyễn Đình Nghị đã mở rộng đề tài chèo sang phản ánh hiện thực đô thị, phát triển hề tính cách và cá thể hóa quá trình sáng tác kịch bản. Về mặt mất, việc học tập phương pháp tả thực của kịch phương Tây và đưa trang trí, phân cảnh rạp hộp cơ học vào sân khấu đã làm suy giảm tính ước lệ, cách điệu và không gian diễn xướng tự do vốn là bản sắc cốt lõi của chèo truyền thống.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh là công trình nghiên cứu hệ thống về kịch bản chèo giai đoạn 1900 - 1945 dưới góc độ văn học kịch trong tương quan đối sánh giữa chèo cổ và chèo cải lương. Thông qua việc phân tích cấu trúc tự sự và 4 xu hướng cách tân của soạn giả Nguyễn Đình Nghị, luận án làm rõ bước chuyển đổi mang tính lịch sử từ phương thức sáng tác dân gian sang phương thức sáng tác cá thể hóa trong văn học sân khấu Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tư liệu và lý luận xác đáng cho việc nghiên cứu lịch sử văn học kịch hát, đồng thời đúc kết những bài học kinh nghiệm về mối quan hệ giữa bảo tồn yếu tố nội sinh và tiếp biến yếu tố ngoại sinh trong sự phát triển nghệ thuật truyền thống.