chương 1, luận án trình bày cơ sở lý luận và khái quát về Opera Việt Nam để làm cơ sở triển khai nghiên cứu vấn đề giọng nữ cao trong Opera Việt Nam ở các chương sau. Chúng tôi trình bày các khái niệm chuyên ngành về giọng hát, giọng nữ cao, bel canto, Opera. Bên cạnh đó, luận án trình bày tóm tắt tiến trình phát triển và đặc điểm của giọng nữ cao, vấn đề hát tiếng Việt với phong cách bel canto. Giọng hát Theo nhà sư phạm thanh nhạc Hồ Mộ La: "Giọng hát là một loại nhạc khí, song là loại nhạc khí có những đặc tính, đặc thù riêng.
Giọng hát là một bộ phận trong cơ thể ca sĩ, nó chịu ảnh hưởng và sự chi phối trực tiếp của thể lực và tâm - thần kinh. Theo tác giả Nguyễn Trung Kiên: ". Giọng hát của người ca sĩ là một nhạc khí hoàn thiện nhất, bởi nó không chỉ phát ra âm thanh trên những giai điệu uyển chuyển, mượt mà, mà còn tạo ra ngôn ngữ trong lời ca. Trong định nghĩa về giọng hát, từ điển điện tử mở Wikipedia tiếng Pháp nêu: Giọng hát được sử dụng như một nhạc cụ (lâu đời nhất) khi người ta dùng nó để thể hiện một tác phẩm âm nhạc.
Việc tạo ra âm thanh hay còn gọi là cấu âm, được thực hiện bằng cách đẩy không khí qua hai dây thanh âm rung lên nằm trong thanh quản, sau đó là nhờ sự khuếch đại và âm vang của các cơ quan cộng hưởng âm thanh như lồng ngực, yết hầu, khoang miệng và khoang mũi. Như vậy, với tư cách là một nhạc khí, giọng hát được tạo nên từ một bộ 3 “La voix est utilisée comme un instrument de musique (elle est à ce titre cónidérée comme le plus ancien) lorsqu'elle interprète sa partie d'une oeuvre musicale.” 16 phận của con người, nó chịu ảnh hưởng và sự chi phối trực tiếp của thể lực và tâm - thần kinh. Con người điều khiển giọng hát của mình mang tính tự thân với những đặc điểm riêng của mỗi cơ thể người cùng với sự luyện tập, giọng hát trong nghệ thuật thanh nhạc là một “nhạc khí sống”, mỗi giọng hát đều có sắc thái riêng. Trong tác phẩm Opera, một giọng hát không chỉ là một thành phần của tác phẩm âm nhạc, một “bè” trong tổng thể tác phẩm, mà còn là “nhân vật”, là vai diễn.
Một giọng hát trong Opera được thể hiện trong tiết mục (ở các hình thức thanh nhạc trong pl VII tr.104) với mối quan hệ cấu trúc với toàn bộ tác phẩm. Giọng nữ cao (soprano) Tác giả Clifton Ware nói về giọng soprano là: "bè nữ cao nhất và là bè cao nhất trong hợp xướng. Từ điển The New Grove đưa ra khái niệm về giọng nữ cao chi tiết hơn: "Soprano là giọng nữ cao nhất với âm vực từ nốt Đô ở quãng tám một đến nốt la quãng tám hai, có thể mở rộng âm vực ở cả hai đầu, âm khu trầm và âm khu cao, đặt biệt là khi được viết cho solo. Từ soprano được xây dựng trên từ gốc là "sopra" hay "sovra" (nghĩa là "ở trên")"5 [122, tr.
Có thể nói, giọng nữ cao là loại giọng khá phổ biến của nữ giới, dễ nhận biết qua âm sắc của giọng, có âm vực mở rộng hơn những loại giọng khác. Chính âm sắc của giọng hát giúp chúng ta phân biệt được sự khác nhau giữa các loại giọng hát. Âm vực của giọng hát là quãng cách từ nốt thấp nhất đến nốt cao nhất mà giọng hát thể hiện được. Trong âm vực được chia ra nhiều âm khu: trầm, trung, cao.
Riêng đối với giọng nữ cao, vấn đề luyện tập, mở rộng âm vực ở âm khu cao sẽ thuận lợi hơn các loại giọng khác, nhờ đó mà giọng 4 Nguyên văn tiếng Anh: “.Highest female Voice and highest part of a choir.” 5 Nguyên văn tiếng Anh: “The highest female voice, normally written for within the range c1 to a2, which maybe extended at either end, particularly in solo writing.The word itself is built on the roof 'sopra' or 'sovra' ('above, 'over').” 17 nữ cao dễ dàng thể hiện những nốt cao nhất khi hát solo, khi hát chung với giọng hát khác hoặc hát trong dàn hợp xướng. Bel canto Tác giả Clifton Ware nhận xét: "Bel canto - nghĩa là hát đẹp, là phong cách hát nhấn mạnh sự trong sáng, linh hoạt; Phong cách này có nguồn gốc từ Ý thế kỷ XVII và phát triển mạnh mẽ đến thế kỷ XIX với các nhà soạn nhạc tiêu biểu như như Bellini, Rossini, Donizetti"6 [124, tr. Theo tác giả Hồ Mộ La:. Bel canto có nghĩa là lối hát hay với giọng hát đẹp hào hoa, có phong cách riêng hát aria và thể hiện kỹ xảo ca hát cực kỳ khó và cao siêu.
Ngày nay, trên sân khấu Opera cổ điển ở các nước phương Tây cơ bản vẫn hát theo phương pháp bel canto.) phương pháp bel canto không chỉ là phương pháp ưu việt nhất, cơ bản nhất cho biểu diễn Opera, mà còn có ảnh hưởng rộng rãi và chi phối biểu diễn ca hát các thể loại khác [49, tr. Tác giả Nguyễn Trung Kiên có viết: "Bel canto nghĩa là hát đẹp. Phong cách này xuất hiện cùng với sự phát triển của nghệ thuật Opera Ý (thế kỷ XVII). Điều đặc biệt của nó là san bằng các âm khu, âm vực rộng, âm sắc thanh nhã, âm thanh tròn, hỗn hợp trên điểm tựa, giọng hát đầy đặn và âm vang.
Nói về phong cách bel canto, tác giả John G. Paton cũng đã viết: “Bel canto, nghĩa là hát đẹp, là tên gọi mà ngày nay chúng ta sử dụng nói về phong cách hát của Nicola Vaccai đã dạy. Như vậy, bel canto là lối hát đẹp, trong sáng, linh hoạt, mềm mại, lưu loát, 6 Nguyên văn tiếng Anh: “Bel canto- literally translated as "beautiful singing” in reference to a vocal style that emphasizes purity of tone and flexibility; originated in seventeenth- century Italy and remained strong through the first part to the nineteenth century with such composers as Bellini, Rossini,and Donizetti”. 7 Nguyên văn tiếng Anh: “.Bel canto, beautiful singing, is the name we use today for the style of singing which Nicola Vaccai taught.
18 thể hiện được kỹ xảo khó và cao siêu với âm vực rộng. Nghệ thuật bel canto là nghệ thuật hát của ngôn ngữ đa âm. Khi hát, khẩu hình luôn mở, mở rộng và khuếch đại nguyên âm; phát âm, nhả chữ chính xác về cao độ đã ghi trên tác phẩm… Giọng hát đầy đặn, âm vang, là phương pháp ưu việt, cơ bản nhất cho biểu diễn Opera. Opera Opera trong tiếng Ý có nghĩa là “công trình sáng tác, “tác phẩm” [32, tr.
Đó là cách ghi khiêm tốn dưới các sáng tác được xem là “thể nghiệm sân khấu âm nhạc” của các nhạc sĩ Ý vào buổi đầu của nghệ thuật Opera. Cho đến nay, nhiều học giả, chuyên gia âm nhạc trên thế giới đã định nghĩa Opera bằng nhiều cách khác nhau8, nhưng tất cả đều thống nhất ở khái niệm Opera là tác phẩm nghệ thuật tổng hợp, trong đó có sự thống nhất giữa âm nhạc (thanh nhạc và khí nhạc), văn chương (thơ, kịch bản), hành động sân khấu (kịch, diễn xuất), múa, hội họa, trang trí, phục trang, kiến trúc. Khái niệm Opera được giải thích đầy đủ trong từ điển The New Grove: Opera là một thuật ngữ chung cho những tác phẩm mang tính sân khấu âm nhạc - kịch, trong đó người nghệ sĩ có hát một vài phần hoặc tất cả các phần trong tác phẩm. Opera là sự kết hợp giữa âm nhạc, kịch sân khấu và biểu diễn.
Mặc dù âm nhạc thường chiếm vai trò chủ đạo nhưng chúng được 8 Theo sách "Nghệ thuật Opera" của tác giả Nguyễn Trung Kiên - Nhà lý luận âm nhạc I. Vainkop định nghĩa: "Opera là tác phẩm nhạc kịch (đôi khi đưa vào cả các màn múa ballet), dùng cho sân khấu biểu diễn, lời của vở hoàn toàn hoặc một phần được thực hiện bằng nghệ thuật hát, thường với phần đệm của dàn nhạc. Cũng theo sách nêu trên - Nghệ sĩ Opera thiên tài Nga F. Saliapin đã nói: "Tôi yêu nhất Opera, tôi quí trọng nó là vì Opera phối hợp các hình thức nghệ thuật với nhau một cách hài hoà, nhịp nhàng như: âm nhạc, thơ ca, hội họa, điêu khắc, kiến trúc.
Giáo trình Phân tích tác phẩm của tác giả Đào Trọng Minh (tập 5) định nghĩa: “Opera là loại hình nghệ thuật tổng hợp giữa nhạc không lời, thanh nhạc và sân khấu, liên kết với những loại hình nghệ thuật khác như nghệ thuật múa và hội hoạ. Opera là một thể loại kịch, trong đó hầu hết các nhân vật đều hát và cùng với dàn nhạc tạo nên một thể thống nhất. Một trong những định nghĩa về Opera là “drama per musica” – (kịch bằng âm nhạc). Có một vài từ gần đồng nghĩa với Opera như music – drama hay Music – theatre” [43, tr.
19 kết hợp theo cách thức và mức độ khác nhau tuỳ theo từng quốc gia và từng giai đoạn lịch sử. Như vậy, Opera là một loại hình nghệ thuật sân khấu tổng hợp đồ sộ nhất. Trong đó, nghệ thuật âm nhạc đóng vai trò chủ chốt và trong nghệ thuật âm nhạc thì thanh nhạc đóng vai trò chính. Dựa vào cấu trúc vở diễn và ý tưởng nội dung tác phẩm, nhạc sĩ sáng tác sẽ có những lựa chọn về giọng hát cụ thể (giọng nữ hay nam, giọng cao, trung hay trầm), vai diễn cụ thể (chính hay phụ), nhân vật cụ thể (chính diện hay phản diện) cho phù hợp.
Trong các yếu tố trên, việc lựa chọn giọng hát là rất quan trọng. Trong các giọng hát được lựa chọn, giọng nữ cao và nam cao luôn được chú trọng. Hai loại giọng này thường đảm nhận vai diễn chính trong các vở Opera. Về cấu trúc, qua các thời kỳ khác nhau, các vở Opera có cấu trúc khác nhau, quy mô đã được mở rộng hơn rất nhiều so với thời kỳ đầu, và đến các Opera kinh điển của G.
Puccini, cấu trúc chung thường gồm các “màn” (act), “cảnh” (scene), “hồi”, “tiết mục” (item). đôi khi được đánh số hoặc ghi bằng các chữ cái. Bắt đầu là khúc mở màn (ouverture), vào các màn, mỗi màn có nhiều cảnh, hồi. Thông thường, các vở Opera sử dụng cấu trúc màn (thường có 3 màn trong mỗi vở diễn).
Nhiều vở Opera sử dụng cấu trúc chỉ gồm các cảnh, hồi. Đơn vị hoàn chỉnh nhỏ nhất trong vở Opera là tiết mục. Trong một màn hay một cảnh, một hồi có nhiều tiết mục (thanh nhạc hoặc khí nhạc). Một số hình thức thanh nhạc trong Opera (pl VII, tr.