CHƯƠNG 1 SỰ NGHIỆP ÂM NHẠC CỦA CHOPIN VỚI CÂY ĐÀN PIANO 1.1 Sự nghiệp sáng tác của Chopin gắn liền với cây đàn piano1 Thế kỷ XIX được đánh giá trong lịch sử văn hoá thế giới như một thế kỷ phát triển rực rỡ của các nền văn hoá dân tộc, vào giai đoạn này đã hình thành những trường phái dân tộc trong văn học, hội hoạ và âm nhạc. Phong trào đấu tranh giải phóng cuả các dân tộc chống áp bức của chế độ phong kiến chính là nhân tố thúc đẩy quá trình phát triển khuynh hướng của chủ nghĩa lãng mạn. Những khía cạnh quan trọng của chủ nghĩa lãng mạn chính là sự quan tâm đến đời sống của nhân dân, đến nền nghệ thuật dân gian như ca khúc, vũ khúc, truyện cổ tích thần thoại, tình yêu thiên nhiên. Nửa cuối thế kỷ XIX, ở châu Âu chứng kiến sự phát triển của công nghiệp hoá, đô thị hoá và bất ổn chính trị.
Học thuyết của chủ nghĩa dân tộc có được sức mạnh, dẫn tới sự hợp nhất của Ý, Đức và những khuấy động đầu tiên của chủ nghĩa xã hội và phong trào lao động Xã hội chủ nghĩa. Trong những năm đầu của thế kỷ XIX đối với đất nước Ba Lan chính là một giai đoạn lịch sử đầy khó khăn và phức tạp. Năm 1795, đất nước Ba Lan rơi vào tình cảnh mất chủ quyền độc lập ảnh hưởng tới số phận của một dân tộc, tới phong trào giành độc lập. Việc khơi dậy tư tưởng về sự hùng mạnh vĩ đại của Tổ quốc Ba Lan đã bao trùm lên ý thức của đông đảo nhân dân Ba Lan lúc bấy giờ.
Các bài ca cũng như nhiều tác phẩm nghệ thuật lúc đó luôn thức tỉnh và nhắc nhở tới một quá khứ anh dũng hào hùng của Tổ quốc. Niềm khát vọng mãnh liệt mang tới sự khẳng định tự hào dân tộc đã tiếp sức cho việc quan tâm hướng tới những tinh hoa và sự đa dạng của nền văn hoá nghệ thuật dân gian. Chính trong những điều kiện xã hội như vậy đã dẫn tới việc thành lập trường phái âm nhạc dân tộc. Bên cạnh hàng loạt bài hát và các vở opera đồng thời cũng xuất hiện hàng loạt những hình thức thể hiện mới thuộc lĩnh vực khí nhạc.
Các nhạc sĩ Ba Lan lúc đó cũng sáng tác 1 Theo nghiên cứu từ cuốn “Chopin – the reluctant romantic” của Jeremy Siepmann xuất bản năm 1995, NXB Northeastern University Press, Boston 12 một số lượng không nhỏ các tác phẩm viết cho piano như Concerto, Sonate, Biến tấu và nhiều tiểu phẩm. Trong đó thể loại Polonaise được khá nhiều tác giả yêu thích. Sự phát triển của thể loại Polonaise cũng gắn liền với sự nghiệp sáng tác của hai nhà soạn nhạc lớn: Osip Kozlovsky và Michal Kleofas Oginsky. Osip Kozlovsky (1757- 1831) đã từng nhiều năm sống ở St.Peterburg và làm việc trong cung đình, ông sáng tác nhiều tác phẩm khí nhạc và hợp xướng, đặc biệt những bản Polonaise của ông mang tính chất anh hùng ca, sự kiêu hãnh của giới quý tộc, đồng thời cũng đầy cảm xúc trữ tình.
Tiếp tục sự nghiệp sáng tác trong thể loại Polonaise phải kể đến M. Oginsky, ông chính là học trò xuất sắc của O. Kozlovsky, ông đã nâng một bước về thể loại Polonaise trữ tình. Đáng chú ý ở đây Oginsky cũng là một chiến sĩ cách mạng trực tiếp tham gia chiến đấu trong cuộc chiến vệ quốc, ông đã từng lãnh đạo cả một trung đoàn.
Thật sự các bản Polonaise của ông đã trở nên vô cùng quen thuộc và được sử dụng đến ngày nay như bản Polonaise giọng La thứ. Ngoài ra, người sáng tác nhiều tác phẩm cho piano trong giai đoạn đó phải kể tới Josef Elsner (1769 - 1854). Ông là nhà soạn nhạc, nhà sư phạm nổi tiếng tài năng, giám đốc đầu tiên của Nhạc viện Warsaw và là thầy của Chopin. Elsner, chúng ta phải kể tới các nhạc sĩ nổi tiếng như F.
Lessel và đặc biệt là Maria Szymanowska (1739 - 1831). Thật vậy, bà là một trong những nghệ sĩ piano xuất sắc nhất thời bấy giờ. Bà đã lưu diễn nhiều nơi trên thế giới, nghệ thuật trình diễn piano của bà đã trở thành huyền thoại, bà có khả năng làm chủ cây đàn tạo nên sự lộng lẫy trong sáng và làm cho cây đàn “hát”. Bà có tiếng đàn hấp dẫn với chiều sâu đi vào lòng người, bên cạnh đó là những tác phẩm piano nổi tiếng có giá trị của bà như 20 bản Etude, 20 bản Mazurka hay còn gọi là các điệu nhảy dân gian Ba Lan… Những khuynh hướng sáng tác và nghệ thuật biểu diễn piano của những nhạc sĩ Ba Lan thời kỳ đó đã có ảnh hưởng rất lớn tới nghệ sĩ vĩ đại Chopin.
Chopin sinh ra và lớn lên trong một gia đình yêu âm nhạc, bố là nhạc sĩ người Pháp và mẹ là một phụ nữ Ba Lan yêu âm nhạc thuộc dòng dõi quý tộc, có năng khiếu âm nhạc đặc biệt, biết chơi đàn piano, có giọng hát hay và rất yêu thích dân ca Ba Lan. Mẹ của 13 Chopin luôn tin chắc rằng: “Những ai được làm quen với âm nhạc từ nhỏ thì không thể thô bạo và độc ác; âm nhạc làm dịu tính tình hơn những ngành nghệ thuật khác.13] Chính vì vậy cả 4 chị em của Chopin được làm quen và học đàn từ rất bé. Chopin đã tỏ ra có thiên bẩm về tài năng âm nhạc từ rất sớm, ông thừa hưởng tình yêu âm nhạc dân gian từ mẹ khiến sau này âm hưởng dân ca dân vũ của Ba Lan thấm đậm trong toàn bộ sáng tác của ông, và cũng thật may mắn khi khả năng âm nhạc vượt trội đó được chăm sóc, dẫn dắt bởi những người thầy tên tuổi, giàu kinh nghiệm như Wojciech Zywny, J. Elsner đã nhanh chóng hình thành một tài năng biểu diễn piano xuất chúng ngay khi Chopin còn là một cậu bé.
Khi mới 7 tuổi, Chopin đã là tác giả của hai bản Polonaise giọng Son thứ và Si giáng trưởng, bên cạnh đó, ông cũng tham gia nhiều buổi hoà nhạc từ thiện. Buổi biểu diễn ra mắt công chúng đầu tiên của Chopin diễn ra vào năm 1818 ở quê nhà. Mùa hè năm 1829 ông đã tới Viên, biểu diễn các tác phẩm của mình trong hai buổi hoà nhạc, giới âm nhạc lúc đó đánh giá rất cao không chỉ những tác phẩm mang màu sắc dân gian sống động của ông mà cả phong cách diễn tấu piano vô cùng đặc sắc của Chopin. Chopin cống hiến cho sự nghiệp sáng tác và đã viết một số tác phẩm, trong đó có hai bản Concerto cho piano và dàn nhạc cung Fa thứ và Mi thứ.
Bản Concerto số 1 đã được gợi cảm hứng rất lớn từ cảm xúc của nhà soạn nhạc đối với Konstancja Gladkowska, sinh viên thanh nhạc tại nhạc viện. Đây cũng là thời kì Chopin cho ra đời những bản Nocturne, Etude, Valse, Mazurka đầu tiên. Trong những tháng cuối cùng trước ngày Chopin dự định ra nước ngoài sinh sống, Chopin đã có một số buổi biểu diễn trước công chúng, chủ yếu là ở Nhà hát quốc gia Warsawa, nơi hai bản Concerto lần đầu tiên được biểu diễn. Vào ngày 11 tháng 10 năm 1830, ông đã có một buổi hòa nhạc chia tay tại Nhà hát quốc gia Warsawa, trong đó ông đã biểu diễn bản Concerto cung Mi thứ, và K.
Gladkowska đảm nhiệm vai trò ca sĩ. Ngày 02 tháng 11 năm 1830, cùng với người bạn Tytus Woyciechowski, Chopin đã đến nước Áo, với dự định đi tiếp sang Ý. 14 Mùa thu năm 1831, ông đến Paris. Ở Paris, ông biểu diễn, dạy đàn cùng lúc soạn nhạc, và ông lấy tên tiếng Pháp là Frédéric-François Chopin.
Cả cuộc đời, sức khoẻ ông không được tốt. Ông có mối quan hệ gần gũi nhưng đầy trắc trở với nhà văn Pháp George Sand trong suốt 10 năm trước khi ông qua đời do lao phổi ngày 17 tháng 10 năm 1849 tại Paris, thọ 39 tuổi. Thật sự cây đàn piano có một sức hút kỳ lạ với ông, Chopin cảm nhận được cây đàn piano thay thế cho nhiều loại nhạc cụ, khi thì là dàn nhạc giao hưởng, khi thì hát với giọng con người… Bằng tình yêu âm nhạc cháy bỏng, ông đã gửi gắm tất cả những tình cảm, nội tâm mạnh mẽ và tình yêu đối với quê hương một cách trọn vẹn vào tiếng đàn piano. Chopin đã buộc nó phải ngân lên theo cách mới mẻ, dịu dàng và đượm nét trữ tình.
Âm nhạc của Chopin mang nhiều chất hát, dân ca, dân vũ, lãng mạn, mang tính hình tượng, như tiềm ẩn những nỗi đau cũng như tình yêu cao cả với quê hương Ba Lan. Vì vậy khi biểu diễn các tác phẩm của ông, cần phải chú ý kết hợp kỹ thuật cao cùng với nội dung nghệ thuật. Mọi nét chạy mọi dạng kỹ thuật đều là giai điệu và phải có chất hát. Chopin không viết thể loại nhạc có cốt truyện.
Âm nhạc của ông tinh tế, đầy sức biểu cảm và lãng mạn, sự trình diễn chính xác tác phẩm của ông yêu cầu ở người chơi kỹ thuật tốt và cách đặt ngón hoàn hảo. Những giai điệu của Chopin mang tính hát, chúng thường theo chu kỳ dài 8 nhịp và theo nguyên âm cơ bản. Chopin rất giỏi trong việc ứng tác và thường thích biến tấu có chủ đề hơn là các phần như công cụ phát triển tác phẩm. Chromatique cũng được sử dụng để làm đa dạng và phát triển chủ đề.
Những nốt trang trí, những quãng ngẫu nhiên và những nét nhạc hoa mỹ rất phong phú. Sự nhắc lại với biến tấu và lặp lại sau tương phản là những phương pháp hình thức cơ bản của ông. Ví dụ: Bản Nocturne Op.2 được xây dựng theo cấu trúc A-A’-B-A’’-B’-A’’’- Coda – Cadenza - Cadence.1: Trích Nocturne Op.9 số 2, 2 nhịp đầu Trong âm nhạc của Chopin, đối âm chặt chẽ và phức điệu được ẩn giấu. Trong hoà thanh của mình, ông sử dụng sự nghịch âm một cách tự do, táo bạo và đầy ngạc nhiên.
Sự nghiệp sáng tác của Chopin gắn liền với nhiều nền văn hoá nghệ thuật của thế giới, đó là văn hoá của Ba Lan và các nước Slavơ khác, là nghệ thuật của thời đại Bach, Mozart, Beethoven, với các nhạc sĩ lãng mạn của Pháp, Đức đầu thế kỷ XIX và các nhạc sĩ sáng tác Opera. Đây là một sự tổng hợp bao quát của nhiều trường phái âm nhạc quan trọng của nhân loại. Chính vì thế mà âm nhạc của Chopin nhanh chóng được đánh giá cao và được đón nhận trên toàn thế giới. Nghệ thuật của Chopin đã chứa đựng nhiều nhân tố của các khuynh hướng trường phái âm nhạc quan trọng đầu thế kỷ XIX, nói một cách khác Chopin chính là một đại diện tiêu biểu cho nền âm nhạc đầu thế kỷ XIX.