Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÔN NGỮ 1. TỪ NGỮ Lịch sử nghiên cứu từ tiếng Việt là một quá trình liên tục, phản ánh cố gắng của nhiều thế hệ nhà nghiên cứu trong và ngoài nước trong việc miêu tả từ ở các bình diện: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và phong cách nghệ thuật. Dù nghiên cứu từ ở bình diện nào thì các nhà nghiên cứu cũng đều có một điểm chung thống nhất rằng từ là đơn vị cơ bản của từ vựng, là đơn vị cốt lõi để tạo nên những đơn vị lớn hơn như cụm từ, câu, văn bản. Khái niệm từ Trong đời sống ngôn ngữ, từ là đơn vị trung tâm bởi nó thể hiện quan hệ giữa ngôn ngữ và hiện thực khách quan.
Từ trực tiếp gọi tên các sự vật hiện tượng cụ thể và là đơn vị cơ bản của ngữ pháp vì nó là đơn vị để tạo ra các kết cấu ngữ pháp. Tuy nhiên, việc nêu ra một khái niệm đầy đủ, chính xác về từ là vấn đề hết sức khó khăn, bởi lẽ, mặc dù là đơn vị hiển nhiên sẵn có nhưng từ thể hiện ra trong các ngôn ngữ rất khác nhau và thậm chí trong một ngôn ngữ, từ thể hiện trong từng hoàn cảnh nói năng cũng rất khác nhau. Chính vì vậy có nhiều khái niệm về từ được đưa ra nhưng ngay cả các nhà ngôn ngữ học nổi tiếng như Saussure, Bloomfield .v, cũng không nêu ra một định nghĩa rõ ràng về từ. Người ta chỉ nêu các định nghĩa có tính phân loại (phân biệt với các đơn vị khác) rằng, từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ, độc lập về nghĩa và hình thức, hoặc từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập và tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng câu.
Trong tiếng Việt cũng có nhiều nhà Việt ngữ học đưa ra những khái niệm từ. Để thuận lợi cho việc xác lập cơ sở lí luận khi triển khai phân loại và thu thập tư liệu chúng tôi xin chọn cách nêu khái niệm từ của Giáo sư Đỗ Hữu Châu: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu”[8,16]. Cấu tạo từ 1. Khái niệm cấu tạo từ Cấu tạo từ là những vận động trong lòng một ngôn ngữ để sản sinh ra các từ cho ngôn ngữ, phục vụ những nhu cầu mới về mặt diễn đạt mà xã hội đặt ra.
Việc sản sinh ra từ cũng trước hết là sản sinh ra các nghĩa mới. Hơn nữa, vận động cấu tạo từ sản sinh ra không phải chỉ một từ riêng lẻ mà sản sinh hàng loạt từ cùng một kiểu. Phân loại từ về mặt cấu tạo Xét về mặt cấu tạo, từ có các loại sau: + Từ đơn - Khái niệm: Từ đơn là những từ một hình vị. “Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành một hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung.
Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” [8, 40]. - Chức năng: Đại bộ phận các từ thuần Việt hay đã Việt hóa là từ đơn một âm tiết. Trong vốn từ vựng tiếng Việt, từ đơn có số lượng không lớn lắm nhưng lại mang những đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt.
Với những đặc trưng ngữ nghĩa đó, chúng được dùng để cấu tạo hàng loạt từ ghép. + Từ ghép - Khái niệm: “Từ ghép là những từ được sản sinh theo hai hoặc một số hình vị tách biệt, riêng rẽ, độc lập với nhau” [8, 54]. - Chức năng: Về mặt ngữ nghĩa, các từ ghép trong tiếng Việt có chức năng phân nghĩa, chức năng hợp nghĩa ( diễn đạt nghĩa chỉ loại lớn hơn, rộng hơn, bao trùm hơn, hoặc nghĩa chuyên chỉ loại hoặc nghĩa bao gộp) và chức năng biệt lập. + Từ láy - Khái niệm: “Từ láy là những cụm từ cố định được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại một phần có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có.
Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị biểu cảm, gợi tả”[ 20, 91]. - Chức năng: Từ láy tạo nên ý nghĩa đột biến và sắc thái hóa ý nghĩa của hình vị cơ sở. Mỗi từ láy là một “nốt nhạc” về âm thanh, một “bức tranh” về hình ảnh. Từ láy là một loại từ có ý nghĩa quan trọng trong văn học, nhất là thể loại thơ ca, mà những bài ca nghi lễ trong tín ngưỡng dân gian Thừa Thiên Huế thuộc thể loại này.
+ Ngữ cố định - Khái niệm: Ngữ cố định là các cụm từ đã cố định hóa nên nó có tính chất chặt chẽ, sẵn có, bắt buộc và cũng có tính xã hội như từ. - Chức năng: Có giá trị ngữ nghĩa như từ, tạo nên tính cố định về hình thức và ngữ nghĩa trong văn bản. Từ ngữ phân theo nguồn gốc Từ vựng chính là “vốn liếng” của ngôn ngữ. Trong tiếng Việt, xét về nguồn gốc, từ vựng có nhiều nguồn, đó là nguồn của cư dân người Việt cổ, nguồn ảnh hưởng từ Trung Quốc trong quá trình 1.000 năm Bắc thuộc và nguồn từ các nước Ấn- Âu.
Trong những bài ca nghi lễ hát chầu văn , hát sắc bùa và hò đưa linh ở Thừa Thiên Huế, chúng tôi nhận thấy ngoài sự xuất hiện của hai lớp từ chủ yếu là từ thuần Việt và từ Hán Việt, còn có lớp từ địa phương. Chúng tôi xin trình bày cơ sở lý luận của các lớp từ vựng này: 1. Từ thuần Việt + Khái niệm: Những từ được gọi là thuần Việt là những từ vựng gốc của tiếng Việt, biểu thị các sự vật, hiện tượng, khái niệm cơ bản nhất và tồn tại từ rất lâu. Do đặc điểm địa lý ở gần nhau cũng như các đợt di dân từ các vùng miền, từ thuần Việt cũng được tạo ra trên cơ sở có những điểm tương đồng với các dân tộc ở Nam Á.
Quá trình tiếp xúc và tác động lâu dài với các ngôn ngữ Nam Á và Tày- Thái đã để lại dấu ấn là một lớp từ vựng cơ bản và lâu đời nhất trong tiếng Việt. + Vai trò của từ thuần Việt: Trong văn bản tiếng Việt, từ thuần Việt đóng vai trò cốt lõi và chi phối các lớp từ khác. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nhận xét rằng tiếng Việt của chúng ta rất giàu và đẹp. “Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú.
Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp ấy là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa”. Trong nguồn từ vựng của tiếng Việt, lớp từ Hán- Việt chiếm đến 60%, từ thuần Việt chỉ chiếm 40 %. Nhưng vì lớp từ thuần Việt là lớp từ cơ bản biểu thị các phạm trù ngữ nghĩa chỉ các sự vật, hiện tượng, tính chất, hoạt động gắn bó thiết thân với đời sống con người nên việc sử dụng lớp từ thuần Việt trong các văn bản luôn cao hơn lớp từ Hán- Việt, đặc biệt trong các văn bản là sản phẩm của dân gian.
Điều này sẽ được chứng tỏ thông qua thống kê của chúng tôi về tỷ lệ từ thuần Việt và từ Hán Việt ở phần sau. Trong thời đại hiện nay, tiếng Việt ngày càng nâng cao vai trò của mình trong thực tiễn, ngày càng có nhiều từ thuần Việt được sử dụng thay thế cho từ Hán- Việt trong những trường hợp diễn tả nghĩa tương đương. Xu hướng giao tiếp, sáng tác văn học của Việt Nam ngày nay là hướng đến sự chân thật, giản dị, mộc mạc, dễ hiểu. Với những tiêu chí ấy, lớp từ thuần Việt đáp ứng tốt.
Không chỉ trong văn học mà trong nhiều loại hình khác thuộc về tâm linh như các văn bản cầu cúng có tính chất nghi lễ, người ta cũng dần dần giảm bớt từ Hán- Việt thay vào đó là sử dụng nhiều từ thuần Việt dễ hiểu. Như thế, có thể nói rằng, từ thuần Việt là lớp từ quan trọng và chủ chốt trong các văn bản hiện nay. Từ Hán - Việt + Khái niệm: Từ Hán- Việt là những từ gốc Hán được đọc theo âm Việt. + Vai trò của từ Hán Việt: Trải qua quá trình lựa chọn, cải biên và vận dụng kéo dài hàng ngàn năm, lớp từ Hán- Việt đã trở thành một bộ phận hữu cơ trong kho từ vựng tiếng Việt.
Giữa từ thuần Việt và từ Hán- Việt đã có sự phân hóa chức năng và được người Việt sử dụng để thể hiện sắc thái tu từ trong các phong cách chức năng khác nhau. Từ Hán- Việt là nguồn chất liệu đáng kể không chỉ trong văn chương bác học mà cả trong văn chương bình dân. Từ chỗ vay mượn trực tiếp, các từ Hán đã được Việt hóa và được sử dụng rộng rãi trong sinh hoạt hàng ngày của người Việt. Nhà nghiên cứu Lê Xuân Thại (1990) cho rằng trong vốn từ tiếng Việt, các từ mượn từ tiếng Hán chiếm 60-70 %.
Theo Nguyễn Văn Tu (1980), thuật ngữ khoa học xã hội trong tiếng Việt vay mượn đến 80%. Từ gốc Hán trong tiếng Việt rất đa dạng và phong phú. Người ta không thể tách từ Hán -Việt ra khỏi khối lượng từ vựng nói chung trong tiếng Việt. Hiện nay, chưa có con số thống kê chính xác nhưng theo Huỳnh Thanh Xuân (2003),“ Từ Hán- Việt trong tiếng Việt hiện đại”,Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, thì trong vốn từ vựng của tiếng Việt, từ Hán- Việt chiếm một số lượng rất lớn- có lẽ lên đến trên 70 %.
Theo nguyên lý biến đổi của ngôn ngữ, thì càng năm tỷ lệ này càng giảm do người dân Việt đã Việt hóa nhiều từ có nguồn gốc tiếng Hán trở thành từ tiếng Việt. Đó là trường hợp nhiều từ đã được Việt hóa đến nỗi ngày nay nhiều người Việt Nam cũng không ý thức rõ nhiều về từ Hán- Việt có một âm tiết có nguồn gốc từ tiếng Hán như: học, áo, canh, tiền, chỉ, hoặc, tuy, bát, bút, hộp, than. Một số từ Hán- Việt được đưa vào sử dụng trong tiếng Việt, có nhiều trường hợp phải cải biến nghĩa cho phù hợp với tiếng Việt. Có những từ Hán- Việt được chuyển từ nghĩa rộng sang hẹp, từ trừu tượng, khái quát sang cụ thể, hay mang thêm một nét biểu cảm nào đó.